Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Cảnh báo nợ công của Việt Nam có nguy cơ vượt trần

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65% GDP) đang dần hiện hữu.

Theo Báo cáo của Chính phủ vào cuối tháng 3 vừa qua, nợ công (bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ của chính quyền địa phương) của Việt Nam đã chiếm 65% GDP, riêng nợ nước ngoài của Chính phủ đã vượt ngưỡng 50% cho phép, chiếm 50,3% GDP. Còn trong báo cáo mới nhất điểm lại nửa chặng đường của năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65% GDP) đang dần hiện hữu.

Thực trạng sử dụng ngân sách không hiệu quả đang diễn ra phổ biến trên cả nước, cụ thể như: Dự án đạm Ninh Bình phải bỏ dở chừng vì đầu tư 12.000 tỷ đồng, mỗi năm lỗ 2.000 tỷ đồng. Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng) đã chi 7.000 tỷ đồng đến nay vẫn đắp chiếu, mặc cho máy móc, thiết bị hoen rỉ dần…. Nhiều dự án đầu tư công chậm tiến độ, đội vốn… như dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông (Hà Nội) khởi công tháng 10/2011, dự kiến hoàn thành vào năm 2015. Tuy nhiên, đến nay dự án này vẫn chưa đi vào sử dụng mà vốn đã đội vốn gần 7000 tỷ đồng, Dự án đường 5 kéo dài có tổng mức đầu tư là 3.532 tỷ đồng, đã chậm tiến độ tới 6 năm và mức đầu tư cho dự án cũng tăng gần gấp đôi...

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nêu ý kiến: “Đầu tư công khi dự toán là một, đến lúc thực hiện tăng lên gấp 2, gấp 3 lần. Cái đó thể hiện sự kém hiệu quả của đầu tư công, trong đó có thể là lãng phí, có thể thất thoát … vì vậy, đầu tư công trở nên kém tin cậy. Khi tính là một thì có hiệu quả nhưng khi thực tế tăng lên gấp 2, gấp 3 thì hiệu quả sẽ hoàn toàn biến mất”.

Trong khi đó, báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, hiện cả nước dư thừa khoảng 7.000 chiếc xe công, điển hình như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa 176 xe, Bộ Công Thương thừa 57 xe... Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn tiếp tục đề nghị được mua xe mới.

Tổng hợp báo cáo kiểm toán năm 2015 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy vẫn còn nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, như: mỗi năm Tổng Công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) lỗ 3.400 tỷ đồng; Tổng Công ty Xây lắp dầu khí lỗ 3.500 tỷ đồng; Binh đoàn 15 lỗ 470 tỷ đồng... Các chuyên gia cho rằng, các khoản nợ trong nước của các doanh nghiệp này thường được Chính phủ hỗ trợ dưới các hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ và để bù đắp phần chi tiêu ngân sách cho khu vực doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ sẽ buộc phải phát hành trái phiếu cũng khiến nợ công tăng cao.

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết: “Trong một nền kinh tế vận hành bình thường thì các doanh nghiệp tự vay tự trả. Vì nền kinh tế của ta là nền kinh tế đang phát triển, cho nên phải vận dụng rất linh hoạt việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp, để họ phát triển thì Chính phủ phải đứng ra bảo lãnh để họ vay vốn và doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ. Nhưng trong tình huống xấu nhất thì đúng là nhà nước phải chịu”.

Theo số liệu mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng thu ngân sách nhà nước trong 8 tháng qua đạt 603 nghìn 700 tỷ đồng nhưng đã phải chi ra 715 nghìn 200 tỷ đồng, tức là bội chi đã lên đến 111 nghìn 300 tỷ đồng. Ông Bùi Ngọc Sơn, Phó Trưởng phòng Phòng Kinh tế thế giới, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng, với điều kiện tăng trưởng kinh tế thấp như hiện nay, thu ngân sách khó có thể bảo đảm dự toán và nếu kinh tế tăng trưởng không đạt mục tiêu thì nợ công và bội chi cũng sẽ tăng. Nợ công và kể cả nợ nước ngoài có giai đoạn đã bắt đầu chồng lấp và mức độ tăng lên chính là vì như vậy.

Nhưng đáng lo ngại, theo ông Sơn, là triển vọng kinh tế của ta chưa sáng. Rõ ràng khi vay nợ nhiều, nguồn thu để trang trải nợ trong chi tiêu của Chính phủ, trong ngân sách của nhà nước tính đến năm sau có thể lên đến 30% là nguy hiểm. Nếu như thế thì thu được bao nhiêu đi trả nợ hết, hoặc là vay xong lại đi trả nợ luôn.

Theo các chuyên gia kinh tế, nợ công trong mấy năm gần đây tăng nhanh là do Việt Nam phải vay nợ mới để trả nợ cũ, và nếu đà nợ công vẫn cứ tăng đều như hiện nay thì nợ công sẽ vượt trần.

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, Việt Nam phải kiểm soát thật chặt nguồn vốn vay. Bên cạnh đó, cần nâng cao tính minh bạch của các dự án đầu tư công. Một trong những giải pháp có tính chất quan trọng là chúng ta phải quy trách nhiệm, xác định rõ ràng, không những trách nhiệm về mặt dân sự mà trách nhiệm cả về mặt hình sự nếu có những hiện tượng tham ô, lãng phí. Thực tế hiện nay vấn đề này Đảng và Nhà nước đã nhìn thấy nhưng việc làm có quyết liệt hay không lại là vấn đề cần phải bàn.

Hiện, nợ công của Việt Nam vẫn đang tiếp tục tăng cao và nghĩa vụ trả nợ cũng ngày càng lớn. Các chuyên gia kinh tế khuyến cáo, thời gian tới, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, thực chất hơn của hoạt động giám sát Quốc hội để kiểm soát nợ công, cần tăng cường công cụ kiểm toán trong giám sát nợ công. Bên cạnh đó, cần chủ động ngăn chặn sự thất thoát, lãng phí đầu tư và chi tiêu công; xiết chặt và tăng cường kỷ luật, năng lực, hiệu quả quản lý, sử dụng nợ công; đồng thời, cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo tinh thần “phòng cháy hơn chữa cháy”./.

Theo Cẩm Tú

VOV

Vén màn thua lỗ tại PVC - Bài 2: Chi tiêu vô tội vạ

Bên cạnh việc đầu tư rót vốn tràn lan vào các công ty liên doanh, liên kết, việc thiếu năng lực quản trị, chi tiêu vô tội vạ đã khiến PVC từ một đơn vị mạnh của ngành dầu khí trở thành "gánh nặng" với những dự án đầy tai tiếng.

Bản báo cáo tài chính và báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh của PVC tại thời điểm gần cuối năm 2013 thừa nhận, nhiều khoản lỗ tại đơn vị xuất phát từ việc phát triển quá nóng dẫn đến trình độ cán bộ quản lý không theo kịp quy mô và tốc độ phát triển của đơn vị. Một lãnh đạo của đơn vị này cũng thừa nhận, công tác quản lý tài chính của PVC còn yếu, tại một số dự án, công ty thành viên có biểu hiện thực hiện sai nguyên tắc tài chính dẫn đến công nợ tạm ứng cá nhân lớn. Thanh toán tạm ứng vượt khối lượng tại nhiều đơn vị thành viên vượt quá quy định hợp đồng đã gây ra những khoản nợ khó đòi, rủi ro tài chính cho đơn vị.

Trả giá vì phát triển nóng

Được biết, riêng tiền tạm ứng cá nhân sai nguyên tắc tại công ty mẹ và các công ty tính đến thời điểm 30/6/2013 chốt trên sổ sách của PVC lên tới hơn 138,8 tỷ đồng. Các nhà thầu cũng được ứng thừa hơn 5.144 tỷ đồng khi thực hiện các dự án của PVC. Riêng phần công nợ phải thu của tổng công ty mẹ và các đơn vị thành viên thời điểm này cũng lên tới hơn 2.813 tỷ đồng. Việc chi tiêu quá tay khiến PVC không thể cân đối được nguồn vốn để trả lãi vay ngân hàng (năm 2012, chi phí lãi vay lên tới 123,1 tỷ đồng).

"Năm 2013, PVC không thể thu xếp được nguồn để trả tập đoàn theo kế hoạch nên đề nghị được giãn nợ. Công ty sẽ tăng cường và siết chặt quản lý điều hành sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật, theo các quy định của tập đoàn, đặc biệt trong công tác quản lý tài chính. PVC sẽ tích cực triển khai công tác thu hồi nợ, đặc biệt là các khoản công nợ ứng vượt của nhà thầu và các khoản công nợ cá nhân".

Lãnh đạo PVC kiến nghị trong văn bản gửi PVN

"Do không có nguồn để trả lãi ngân hàng, dư ứng cho khách hàng lớn khiến nguồn vốn sản xuất kinh doanh của công ty mất cân đối trầm trọng. Việc trích trước lợi nhuận của một số dự án trong các năm trước dẫn đến PVC phải hạch toán lỗ vào năm 2012. Công tác bảo lãnh cho các đơn vị thành viên thiếu kiểm tra giám sát khiến PVC phải thực hiện trả nợ thay các đơn vị và trích lập dự phòng bảo lãnh hơn 126 tỷ đồng", lãnh đạo mới PVC thừa nhận trong văn bản gửi PVN sau khi ông Trịnh Xuân Thanh ra đi.

Theo vị này, các khoản đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết dưới thời ông Trịnh Xuân Thanh hầu hết không hiệu quả.

Thậm chí, khi nhận chuyển nhượng các dự án bất động sản, các công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, các công ty xi măng, khu công nghiệp, lãnh đạo PVC không thực hiện đánh giá hiệu quả đầu tư, không thuê tư vấn độc lập thẩm định giá trị trước khi nhận lại dự án. Chính vì vậy, năm 2012 tổng công ty đã phải trích lập dự phòng hơn 480 tỷ đồng cho các hoạt động đầu tư tài chính. "Một số cán bộ điều hành, quản lý biến chất, thiếu đạo đức, có hiện tượng tham nhũng trục lợi tại PVC-ME, PVC-SG hiện đang được cơ quan công an xác định và làm rõ", lãnh đạo PVC cho biết.

Tạm ứng vô tội vạ

Theo tìm hiểu của PV, dưới thời ông Trịnh Xuân Thanh, việc quản lý tài chính tại các đơn vị được thực hiện rất lỏng lẻo. Ngay tại công ty mẹ PVC, số dư nợ tạm ứng cá nhân sau khi ông Thanh rời khỏi đây lên tới hơn 3.821 tỷ đồng. Trong đó, công nợ quá hạn và đến hạn là 3.352 tỷ đồng. Trong số tiền trên, các khoản trả trước mà công ty mẹ xếp vào diện khó đòi là hơn 2.363 tỷ đồng. Tại một số công trình khá tai tiếng của PVC, như công trình Nhà máy Ethanol Phú Thọ có khoản dư ứng hơn 54,5 tỷ đồng. Việc ứng thừa tiền hàng chục tỷ đồng cũng được ghi nhận tại các đơn vị như PVC-Vinaconex với hơn 43,7 tỷ đồng, PVC-ME với hơn 57,5 tỷ đồng…

Việc cho tạm ứng tiền cá nhân vô tội vạ cũng được ghi nhận tại nhiều đơn vị khác. Như tại Ban quản lý dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, số dư tạm ứng cá nhân đến thời điểm 30/6/2013 là hơn 645 triệu đồng. Trong một báo cáo của PVN sau này cũng cho thấy, số tiền ứng thừa tại ban quản lý dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 có hơn 79 triệu đồng đã được tạm ứng vượt khối lượng cho nhà thầu. Số tiền này sau cũng bị xếp vào diện khó đòi. Ban điều hành dự án Nhà máy sản xuất Ethanol cũng có tình trạng tạm ứng cá nhân vượt số lượng thực hiện hơn 668 triệu đồng. Ban điều hành Vũng Áng- Quảng Trạch cũng có các khoản trả thừa cho khách hàng hơn 737 triệu đồng và cho vay tạm ứng cá nhân 5 người với hơn 3,2 tỷ đồng.

Các khoản tạm ứng cá nhân, quyết toán thừa so với hợp đồng nhiều tỷ đồng ở nhiều công ty con cũng được ghi nhận trong báo cáo của PVC tại thời điểm ngày 30/6/2013. Như tại Công ty CP Xây lắp Dầu khí miền Trung, nhiều khoản tiền ứng trước cho cá nhân, doanh nghiệp được xếp vào diện nợ khó đòi với hơn 4 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty này còn có 17 cá nhân (đã nghỉ việc) nợ tạm ứng hơn 923 tỷ đồng. Công ty CP Xây lắp Dầu khí Hà Nội có công nợ tạm ứng cá nhân quá hạn hơn 4,6 tỷ đồng. Công ty CP Thi công cơ giới và lắp máy Dầu khí có nợ tạm ứng cá nhân hơn 6 tỷ đồng. Trong đó có 10 cá nhân nợ hơn 5,8 tỷ đồng từ năm 2010 nhưng chưa thanh toán.

Theo Phạm Tuyên

Tiền phong

Bảng biểu ngân sách phải rõ thông tin về nợ công

Quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, dự toán ngân sách nhà nước sẽ có thay đổi...

Hệ thống bảng biểu phải phản ánh được tổng mức vay của ngân sách Nhà nước, bao gồm vay bù đắp bội chi và vay để trả nợ gốc của ngân sách Nhà nước.

Đây là ý kiến từ cơ quan thẩm tra, về dự thảo nghị quyết quy định về quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách Trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước hằng năm.

Nôị dung này được Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến chiều 13/9. Theo quan điểm xây dựng, quy chế sẽ làm rõ hơn cơ chế phối hợp, tham gia giữa các cơ quan của Quốc hội với các cơ quan của Chính phủ trong quá trình lập dự toán ngân sách, xây dựng phương án phân bổ ngân sách Trung ương, tổ chức điều hành dự toán ngân sách Nhà nước.

Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách Nguyễn Đức Hải cho biết, Ngân hàng Chính sách xã hội có công văn đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét bổ sung ngân hàng này vào danh mục của cơ quan Chính phủ được phân bổ dự toán chi ngân sách năm như đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Theo cơ quan thẩm tra, đề nghị này là hợp lý.

Về nội dung của dự thảo, một trong những điểm mới được Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng báo cáo là lập kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia. Một trong những nội dung quan trọng của kế hoạch này là xác định khung cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước và giới hạn nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia...

Điều hành phiên thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển băn khoăn khi chưa thấy quy định về lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch đầu tư 5 năm tại dự thảo nghị quyết.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nói kế hoạch đầu tư công trung hạn chỉ là định hướng và xem xét việc này phải vô cùng thận trọng. Bởi nếu thông qua khung và định hướng trên cơ sở dự toán không đúng thì vô cùng nguy hiểm, có thể 5 năm sau sẽ có cả đống dự án đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát.

Phó chủ tịch Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh, càng như vậy thì càng phải kiểm soát, nên nghị quyết này vẫn cần phải quy định về căn cứ, thẩm quyền, nội dung báo cáo... liên quan đến kế hoạch đầu tư trung hạn 5 năm. Cần có quy chế chặt chẽ mới tránh được lãng phí, ông Hiển nói.

Thêm một lần đứng lên, Bộ trưởng Dũng lo lắng: nếu làm không thận trọng, thì sau 5 năm nhìn lại không biết có gánh nổi trách nhiệm hay không!

Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân nói, kế hoạch đầu tư công trung hạn không thể tách rời kế hoạch tài chính 5 năm.

Dự thảo nghị quyết sẽ tiếp tục được hoàn thiện trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định vào phiên họp của tháng sau.

Theo Nguyễn Lê

Vneconomy

Ngân hàng Thế giới: Nhiều trợ cấp, ưu đãi nên Lọc dầu Dung Quất hiệu quả thấp là điều “khó hiểu”

Hiệu quả hoạt động không tương xứng với quy mô của Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã khiến cho đại diện của Ngân hàng Thế giới (WB) thẳng thắn chỉ ra: “Đang có diễn biến hơi khó hiểu".

Theo bà Masami Kojima - đại diện Ngân hàng Thế giới (World Bank), mức thuế nhập khẩu xăng dầu từ các thị trường khác nhau là một trong những vấn đề đặt ra với các nhà máy lọc dầu.

"Cụ thể, thuế nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc, ASEAN rất thấp làm cho ngành lọc dầu không còn hấp dẫn nữa. Đây là vấn đề khá phức tạp với các nhà máy lọc dầu", bà Kojima cho biết.

Dẫn chứng từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất do Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) vận hành, vị chuyên gia WB phân tích: Dựa trên quy mô, nhà máy này hoàn toàn có đủ khả năng cạnh tranh tốt và có hiệu quả sản xuất. Chưa kể, BSR còn có rất nhiều ưu đãi về thuế, tài chính bên cạnh vị trí thuận lợi, nên kết quả hoạt động rất thấp theo WB là “diễn biến hơi khó hiểu”.

Việc Chính phủ trợ cấp cho năng lượng không phải lúc nào cũng tiêu cực theo đánh giá của WB. Bởi ngay cả ở những nước có thị trường năng lượng lớn mạnh thì chính sách trợ cấp chéo vẫn được duy trì để nhằm mục tiêu khác nhau về kinh tế, xã hội, nâng cao sử dụng năng lượng mới…

Tuy nhiên, vấn đề được chuyên gia WB đặt ra là “Các chính sách của Chính phủ liệu có thu được những lợi ích lớn hơn chi phí hay không và làm thế nào để đảm bảo rằng những khoản trợ cấp không làm méo mó thị trường?”.

Trở lại với câu chuyện của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, không những được ưu đãi về thuế, tài chính mà nhà máy này còn sử dụng nguồn dầu thô ngay trong nước. Do đó, lẽ ra chi phí để sản xuất và phân phối phải thấp hơn các nước khác.

“Nếu so sánh với sản phẩm lọc dầu của Singapore, họ phải mất chi phí vận chuyển 2 lần để nhập dầu thô đến nhà máy của họ và sau đấy phải xuất khẩu sang các thị trường tiêu thụ. Trong khi đó, BSR đang hưởng 2 ưu đãi về thuế quan trọng bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và có thể giữ lại số tiền thuế tương đương với ưu đãi. Tại sao có những lợi thế như vậy mà nhà máy không có hiệu quả?", bà Kojima so sánh và đặt câu hỏi.

Với thực trạng hoạt động như trên, đại diện WB cũng bày tỏ lo ngại rằng khi Bình Sơn đang có kế hoạch đưa nhà máy lọc dầu thứ 2 vào hoạt động thì cần phải đánh giá lại, tránh những tác động không tích cực đến khả năng tài chính của BSR.

Theo bà Phạm Kim Quyên - Ban Quy hoạch thị trường, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), mặc dù BSR có nhiều ưu đãi nhưng một trong những khó khăn đó là không được tự quyết giá vận chuyển.

Bên cạnh đó, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sẽ tiêu thụ dầu thô ngọt từ mỏ Bạch Hổ nên khi bán ra thị trường giá rất cao bởi ngay cả khi giá dầu xuống, do buộc phải mua giá dầu ngọt của Bạch Hổ có mức chênh nhiều với giá dầu chua.

"Nhìn chung, thị trường Việt Nam rất phức tạp, các chính sách trợ cấp cần phải đặt trong tổng thể lớn dựa trên các tiêu chí về kinh tế, an ninh năng lượng, phát triển về môi trường….", bà Quyên nói.

Chênh lệch thuế nhập khẩu xăng dầu được xem là nguyên nhân khiến cho Lọc dầu Dung Quất không thể cạnh tranh. Do đó, sau nhiều lần kêu cứu thì mới đây Thủ tướng đã đồng ý cho Lọc dầu Dung Quất được điều chỉnh thu điều tiết ngân sách tương đương với thuế nhập khẩu để có khả năng cạnh tranh hơn. Đồng thời, từ ngày 1/1/2017 sẽ cho công ty này thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, không nhận trợ cấp mà theo thị trường.

Trước quyết định của Thủ tướng, trao đổi với chúng tôi ông Trần Ngọc Nguyên, Tổng giám đốc BSR cho rằng với cơ chế này thì Lọc hóa dầu Bình Sơn có nhiều lợi thế hơn trên thị trường như vận chuyển, bảo hiểm, thanh toán bằng tiền VND, thời gian đóng thuế...

“Do đó khi cơ chế cho Bình Sơn được tự chủ thì chắc chắn các đầu mối sẽ quay lại mua tại nhà máy lọc dầu. Khi Dung Quất bán được nhiều thì nhà máy lọc dầu vận hành với công suất tối ưu và theo đó, mức nộp ngân sách cũng tăng thêm là 2.200 tỷ ...” – ông Nguyên tính toán.

Kế hoạch về mở rộng nhà máy, ông Nguyên cho biết đến năm 2021 sẽ hoàn thành với tổng vốn đầu tư là 1,8 tỷ USD và công suất nâng lên 30%, chế biến nhiều sản phẩm dầu thô. Đồng thời, theo lộ trình của Chính phủ thì cuối năm 2017 BSR bắt đầu IPO và hiện đang mời tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, phương thức cổ phần hóa để báo cáo Chính phủ.

M. Ngọc

Theo Trí thức trẻ

Các hãng bia ngoại "xếp hàng" chờ mua Habeco và Sabeco

Theo nguồn tin thân cận được Wall Street Journal trích dẫn, hiện đang có một số hãng bia nước ngoài quan tâm đến việc mua cổ phần của Sabeco và Habeco gồm Thai Beverage và Singha của Thái Lan, Kirin và Asahi của Nhật Bản, Heineken và Anheuser-Busch InBev của Hà Lan.

Một số trong những nhà sản xuất bia lớn nhất thế giới đang “xếp hàng” để có thể bước chân vào thị trường bia đầy tiềm năng ở Việt Nam, góp phần tạo nên một năm bận rộn với các thương vụ thâu tóm sáp nhập trên một trong những thị trường có tiềm năng tăng trưởng cao nhất ở châu Á.

Chính phủ Việt Nam đang muốn huy động hơn 2 tỷ USD từ việc bán cổ phần tại hai công ty quốc doanh đang sản xuất hai sản phẩm bia Sài Gòn và bia Hà Hội, kỳ vọng trong 2 năm tới sẽ lần lượt bán 90% và 82% ở Sabeco và Habeco.

Theo nguồn tin thân cận được Wall Street Journal trích dẫn, hiện đang có một số hãng bia nước ngoài quan tâm đến việc mua cổ phần của Sabeco và Habeco gồm Thai Beverage và Singha của Thái Lan, Kirin và Asahi của Nhật Bản, Heineken và Anheuser-Busch InBev của Hà Lan.

Eugene Gong, người phụ trách mảng M&A Đông Nam Á tại Deutsche Bank, nhận định đây là cơ hội hiếm có để thâu tóm những công ty đang dẫn đầu thị trường Việt Nam – một trong những nước tiêu thụ bia lớn nhất thế giới. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả những ông lớn trên thế giới đều đang quan tâm đến hai thương vụ này.

Heineken, Singha và AB InBev từ chối bình luận. Tuy nhiên, ThaiBev và Kirin cho biết họ sẵn sàng chờ đón cơ hội còn Asahi đã từng nói họ quan tâm tới Sabeco.

Thương vụ bán Sebco và Habeco cũng được coi là một phép thử cho cam kết mở rộng chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ. Theo bà Lương Thị Mỹ Hạnh, CIO của quỹ VietFund Management, điều này thể hiện quá trình cổ phần hóa đang được tăng tốc và cho thấy Chính phủ không chỉ quyết tâm tăng tính minh bạch mà còn muốn tái cơ cấu nền kinh tế một cách sâu rộng hơn. Quá trình cổ phần hóa Sabeco đã bị trì hoãn vài lần trong những năm qua.

Bán cổ phần ở Sabeco và Habeco cho nhà đầu tư ngoại cũng nằm trong làn sóng nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài, mở cửa chào đón dòng vốn ngoại của Việt Nam. Đã có nhiều dấu hiệu cho thấy kết quả bước đầu: kể từ đầu năm nay, tổng giá trị các thương vụ M&A đã lên tới gần 4 tỷ USD, cao nhất trong hơn 1 thập kỷ.

Dù con số 4 tỷ USD là nhỏ bé so với những thị trường lớn như Mỹ, đây đã là thành tích ấn tượng của Việt Nam và đã cao hơn khoảng 30% so với 10 năm trở lại đây (theo số liệu từ Dealogic).

Với hơn 90 triệu dân và nhu cầu về mọi thứ từ đồ ăn thức uống cho tới dịch vụ tài chính đều đang tăng lên, Việt Nam đang thu hút được làn sóng các công ty từ Nhật Bản đến châu Âu hào hứng tìm kiếm những mục tiêu tiềm năng.

Hồi tháng 7, công ty sữa Vinamilk được nâng room vốn ngoại lên 100% và công ty F&N của Singapore đang muốn tăng tỷ lệ sở hữu từ mức 11% hiện nay. Tháng trước, quỹ đầu tư của nhà nước Singapore thông báo mua 7,7% cổ phần của Vietcombank, ngân hàng có giá trị vốn hóa lớn nhất nước. Năm ngoái, tập đoàn Singha rót 1,1 tỷ USD vào các công ty con của tập đoàn Masan. Đây là thương vụ đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/WSJ

Minh bạch quyền lực của Bộ Công Thương

“Quyền lực của Bộ trưởng, của Bộ Công Thương tại dự thảo luật là rất lớn, vậy điều khoản nào để minh bạch quyền lực này?”, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng Phan Thanh Bình đặt câu hỏi về dự thảo Luật Quản lý ngoại thương.

Tiếp tục phiên họp thứ ba, sáng 14/9, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Quản lý ngoại thương.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh không có mặt. Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú trình bày tờ trình dự án luật.

Theo tờ trình, phạm vi điều chỉnh của luật chỉ tập trung quy định công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương, bao gồm quy định về các biện pháp quản lý, giải quyết tranh chấp trong hoạt động ngoại thương hàng hóa và các biện pháp phát triển ngoại thương.

Nhất trí với phạm vi này, song Thường trực Uỷ ban Kinh tế - cơ quan thẩm tra dự án luật - chưa đồng tình với một số quy định cụ thể.

Chẳng hạn, dự thảo luật giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.

Đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Kinh tế đề nghị quy định cụ thể danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu tại dự thảo luật nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cao, minh bạch, ổn định, dễ áp dụng. Việc hạn chế quyền tự do kinh doanh của tổ chức, cá nhân được thể hiện ngay trong luật, phù hợp với yêu cầu của Hiến pháp, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh nhấn mạnh.

Hay, dự thảo luật quy định Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan.

Còn tại thường trực cơ quan thẩm tra, đa số ý kiến đề nghị quy định Thủ tướng có thẩm quyền quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa vì việc này có liên quan đến nhiều bộ, ngành khác nhau.

Nhiều ý kiến tại cơ quan thẩm tra cũng nhận xét, các điều quy định thẩm quyền áp dụng trong dự thảo luật đều tập trung đầu mối là Bộ Công Thương.

Bên cạnh quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như đã nói trên, Bộ trưởng Bộ Công Thương còn có thẩm quyền công bố hàng hóa cần áp dụng hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, công bố lượng hạn ngạch, phương thức điều hành đối với từng hàng hóa áp dụng hạn ngạch thuế quan, quyết định công bố hàng hóa và cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tương ứng...

Chủ nhiệm Phan Thanh Bình nhận xét, đọc dự thảo luật có cảm giác nặng nề, khi thiên về quản lý nhiều hơn là phát triển ngoại thương.

“Quyền lực của Bộ trưởng, của Bộ Công Thương tại dự thảo luật là rất lớn, vậy điều khoản nào để minh bạch quyền lực này?”, ông Bình đặt câu hỏi.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đặt câu hỏi, luật giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, điều này hạn chế thế nào đến quyền tự do kinh doanh đã được hiến định? Mối quan hệ của Luật Quản lý ngoại thương với Luật Thương mại thế nào cũng là vấn đề được Chủ tịch nêu.

Trả lời những câu hỏi của Chủ tịch Quốc hội, Thứ trưởng Cẩm Tú khá lúng túng, ông loay hoay tìm tài liệu và chủ yếu nhắc lại nội dung đã nêu ở tờ trình.

Theo Nguyễn Lê

VnEconomy

Dự án 'trung tâm tro cốt' và bóng dáng ông Trịnh Xuân Thanh

Dự án Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình do liên danh Tổng Cty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) và Cty TNHH TM Hỗ trợ kiến thiết Miền núi (Cty Miền Núi) làm chủ đầu tư đến nay đã 17 năm vẫn giậm chân tại chỗ. Điều đáng nói sau khi trúng thầu, PVC đã "biến mất" khỏi dự án.

Dự án 17 năm "bất động"

Trao đổi với chúng tôi qua điện thoại, bà Hoàng Thị Kim Loan – Giám đốc Cty Miền Núi cho biết: Năm 2009, UBND quận Thanh Xuân quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất trên địa bàn làm Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình (chủ đầu tư dự kiến xây dựng 2 cao ốc kết hợp trung tâm thương mại và dạy nghề).

Dự án nằm trên phường Hạ Đình (quận Thanh Xuân) và xã Tân Triều (huyện Thanh Trì), trúng thầu là liên danh PVC (do ông Trịnh Xuân Thanh là Chủ tịch HĐQT, TGĐ) và Cty Miền Núi. Khi trúng thầu, nhà đầu tư phải hỗ trợ ngân sách TP Hà Nội 2 tỷ đồng.

Theo bà Loan, hợp đồng thoả thuận liên danh PVC sẽ góp 10% tổng mức đầu tư. Sau khi trúng thầu, PVC và Cty Miền Núi có họp với nhau được vài lần năm 2009. "Cty Miền Núi nhiều lần có văn bản đề nghị PVC đóng tiền nhưng họ không thực hiện cũng không có hồi âm. Kể từ đó, PVC hầu như "biến mất" khỏi dự án này" - bà Loan nói.

Vừa qua, Cty Miền Núi đề xuất UBND TP Hà Nội chuyển đổi dự án Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình, Trung tâm văn hoá tâm linh để kinh doanh đồ thờ và lưu trữ tro cốt. Để triển khai dự án, Cty Miền Núi đề xuất TP Hà Nội thu hồi hơn 15.000m2 đất tại phường Hạ Đình và xã Tân Triều.

Đến ngày 1/9/2015, UBND thành phố Hà Nội có văn bản 6010 "đồng ý về mặt nguyên tắc" với đề xuất của Cty Miền Núi. Tuy nhiên, đề xuất này đã vấp phải sự phản đối của nhiều hộ dân sinh sống quanh khu vực…

Bác đề nghị chuyển đổi dự án

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Tiến Cường, Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì, cho biết: Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình nằm trên đất quận Thanh Xuân và chỉ có một phần trên đất huyện Thanh Trì.

Ông Cường cũng đưa ra văn bản 8467 ngày 31/10/2014 của UBND Hà Nội, giao UBND quận Thanh Xuân và UBND huyện Thanh Trì tiếp tục thực hiện thu hồi đất, GPMB. Ông Cường cho rằng, văn bản này là căn cứ cho việc UBND huyện Thanh Trì lên phương án GPMB dự án.

Về việc này, Sở Quy hoạch & Kiến trúc Hà Nội cho rằng: Cty Miền Núi đề xuất bổ sung tạo lập một khu phục vụ cho thuê chỗ lưu trữ tro cốt tại công trình Trung tâm thương mại dịch vụ là chưa phù hợp với quy định tại quy hoạch nghĩa trang Thủ đô Hà Nội.

Bên cạnh đó, Cty Miền Núi đề xuất tăng chiều cao công trình từ 18 tầng lên 31 tầng là không phù hợp với quy hoạch phân khu đô thị H2-3, tỷ lệ 1/2000 được cấp thẩm quyền duyệt.

UBND quận Thanh Xuân cũng khẳng định, không đồng ý chuyển đổi dự án Trung tâm Thương mại Dịch vụ Hạ Đình thành dự án tâm linh…

Theo Minh Đức

Tiền phong