Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Bộ trưởng Công Thương nói gì về chọn cá hay thép?

"Thời gian qua, tôi cảm thấy rất bất ngờ khi thấy các ý kiến cứ nhắc đi nhắc lại chuyện chọn thép hay chọn cá. Chúng ta bằng mọi giá phải xóa đi nỗi ám ảnh của người dân về điều này. Chúng ta không đánh đổi cái gì cả".

Đây là vấn đề được Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đưa ra tại cuộc họp với lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc về vấn đề ô nhiễm môi trường diễn ra chiều 6-10. Tại cuộc họp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã yêu cầu các lãnh đạo tập đoàn báo cáo thực tế hiện trạng tại các dự án điện, than, xi măng, khoáng sản…

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đặt vấn đề: “Các đồng chí nghĩ gì khi đọc các bài bào phản ánh hiện trạng “14 nhà máy nhiệt điện vây đồng bằng sông Cửu Long” hay “Nhiệt điện than "bao vây" đồng bằng”. Cá nhân tôi thấy rất đau lòng. Là người đứng đầu các tập đoàn, tổng công ty lớn, các đồng chí đừng để người dân cứ nhắc đến nhiệt điện lại rùng mình coi đó là bệnh tật, là ô nhiễm là ung thư… chua xót lắm”.

Bộ trưởng Tuấn Anh yêu cầu các lãnh đạo tập đoàn, công ty phải đứng ra cam kết “không đánh đổi môi trường lấy dự án”. Đồng thời Bộ trưởng khẳng định sẽ kiên quyết đóng cửa những nhà máy, dự án nào có kết luận gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống dân sinh.

“Thời gian qua, tôi cảm thấy rất bất ngờ khi thấy các ý kiến cứ nhắc đi nhắc lại chuyện chọn thép hay chọn cá. Chúng ta bằng mọi giá phải xóa đi nỗi ám ảnh của người dân về điều này. Chúng ta không đánh đổi cái gì cả. Giữ môi trường cũng là giữ sự sống cho chúng ta và tương lai con cháu chúng ta sau này. Khi một số dự án mới chỉ là quy hoạch, từ khi quy hoạch đến lúc triển khai là cả một chặng đường dài có thể 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa.

Người dân bày tỏ lo ngại về công nghệ, về vấn nạn môi trường, điều này có phần trách nhiệm của chúng ta khi chưa giải thích, cung cấp thông tin đầy đủ cho người dân hiểu”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Bộ trưởng còn cho rằng, Formosa cần được coi là bài học để các đơn vị ngành tập đoàn, tổng công ty cần rà soát thận trọng một lần nữa các dự án, nhà máy của mình. Bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường được coi là tiêu chí hàng đầu cho phát triển bền vững.

“Đã đến lúc chúng ta cần nói thẳng, nói thật với nhau xem chúng ta còn bỏ sót quy trình nào, cái gì chưa hoàn thiện cần khắc phục ngay, tốn kém cũng phải làm. Sử dụng tài nguyên có hiệu quả nhưng không phải bằng mọi giá, không đánh đổi hay hủy hoại môi trường bởi đó là tội ác”- Ông nhấn mạnh.

Ông Trần Văn Lượng, Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp cho biết, qua kiểm tra một số dự án có thể thấy một số doanh nghiệp đã đi vào vận hành nhưng chưa có Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường như: Nhà máy Nhôm Lâm Đồng, Nhiệt điện Vũng Áng - PVN, Nhiệt điện Duyên Hải 1.

Một số doanh nghiệp chưa có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước như Nhiệt điện Duyên hải 1, Nhiệt điện Hải phòng, Cảng dịch vụ dầu khí tổng hợp (PTSC) Quảng Bình, PTSC Đà Nẵng, PTSC Dung Quất, Công ty TNHH MTV phân bón dầu khí Cà Mau - PVN, Nhà máy đóng tầu Dung Quất – PVN.

Theo ông Lượng, việc chậm xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường do nhiều nguyên nhân: Chủ đầu tư thuê tư vấn lập ĐTM không đủ năng lực, dẫn đến phát sinh nhiều thay đổi trong thực tế triển khai; Chủ đầu tư thay đổi các công trình bảo vệ môi trường mà chưa được sự chấp thuận; Sự phối hợp giữa Ban QLDA với đơn vị được giao vận hành thiếu chặt chẽ;…

Theo Trà Phương

Pháp luật TPHCM

"Không chỉ Việt Nam mới có cách tính 'kỳ cục' với bảo hiểm xã hội"

Đóng ít, hưởng nhiều và đầu tư quỹ chưa hiệu quả… là những nguyên nhân khiến cho Quỹ hưu trí, tử tuất có nguy cơ mất cân đối lớn trong tương lai không xa.

Theo nhiều phân tích của một số tổ chức quốc tế (như Tổ chức Lao động Quốc tế; Ngân hàng Thế giới) và các nghiên cứu viên độc lập, nếu Việt Nam vẫn giữ nguyên các quy định như hiện nay thì quỹ hưu trí có nguy cơ mất cân đối vào năm 2035 và sau đó có thể không còn tiền vào khoảng năm 2043.

Trao đổi với PGS. TS Giang Thanh Long, Viện trưởng Viện Chính sách Công và Quản lý (ĐH Kinh tế Quốc dân), ông cho biết là hiện các thông tin về mất cân đối và “vỡ quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH)” chưa được hiểu rộng rãi và chính xác.

Theo đó, Quỹ BHXH là quỹ chung với nhiều cấu phần, trong đó các cấu phần hưởng ngắn hạn như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp và các cấu phần dài hạn như hưu trí và tử tuất. Về mặt cân đối thì các quỹ ngắn hạn tương đối đảm bảo trong điều kiện hiện nay, nhưng nguy cơ mất cân đối quỹ chủ yếu là quỹ dài hạn, đó là cho hưu trí và tử tuất.

Ông nhấn mạnh “phải nói rõ nguy cơ mất cân đối quỹ là quỹ hưu trí, Tử tuất thì mới có những hướng đi đúng cho điều chỉnh chính sách”.

Mất cân đối đóng - hưởng có phải là nguyên nhân chính của mất cân đối quỹ?

Trong một lần phỏng vấn gần đây, ông Trần Huy Liệu, Phó TGĐ BHXH Việt Nam cho biết “Không ở nước nào đóng – hưởng lương hưu như Việt Nam khi chỉ đóng 26% nhưng lại được hưởng đến tận 75%”, như vậy là vô lý.

Đồng tình với quan điểm này, PGS Giang Thanh Long giải thích “Hiện nay tổng mức đóng của BHXH đang là 26% và khoảng 22% trong số đó là dành cho hưu trí và tử tuất. Tuy nhiên, lúc về hưu, người lao động có thể sẽ được tới 75%. Mức hưởng này được tính dựa trên số năm đóng góp.”

Ví dụ, như trước năm 2014, Luật quy định định 15 năm đầu được 3%, tức là được hưởng 45%. Mỗi năm tiếp theo được hưởng 2% đối với nam như vậy là 15 x 2% = 30%, cộng với mức 45% trước đó người lao động nam được hưởng 75% lương hưu. Còn đối với nữ, mức hưởng của các năm tiếp theo là 3%, như vậy cộng dồn lại mức hưởng lương hưu là 90%, vượt quá mức hưởng tối đa là 75% nên phần dôi ra sẽ tính hưởng một lần.

“Chính vì lý do đó mà trong Luật BHXH năm 2014 đã phải điều chỉnh giảm phần trăm hưởng xuống. Tuy nhiên, dù giảm xuống nhưng có thể nó vẫn cao hơn nhiều so với mức đóng như hiện nay nên khó tránh khỏi mất cân đối quỹ trong tương lai”, PGS Long cho biết.

Tuy nhiên, ông Long cũng cho biết thêm không phải chỉ có Việt Nam mới có cách tính “kỳ cục” này vì “nhiều nước trên thế giới cũng đã từng như vậy, nhưng họ đã thay đổi cách tính toán cũng như thiết kế lại cách đóng-hưởng. Việt Nam cũng cần phải dần chuyển đổi để thích ứng với tình hình, đặc biệt trong bối cảnh dân số ngày càng già”.

Dù vậy, ông Long nhấn mạnh là dù điều chỉnh như thế nào cũng phải đảm bảo được đời sống cho người về hưu hay không bởi “cắt giảm là chuyện đơn giản, nhưng cắt tới mức mà người về hưu không sống nổi bằng lương hưu thì lại là vấn đề kinh tế-xã hội và chính trị rất lớn”.

Một vấn đề khác cũng được dư luận nói tới là bất công bằng trong mức hưởng lương hưu giữa khu vực công với khu vực tư. Tuy nhiên, PGS Long giải thích rằng việc áp dụng Luật BHXH năm 2014 đang thể hiện rằng những sự khác biệt đó dần được xoá bỏ giữa hai khu vực này như cách tính mức hưởng, cách tính mức lương cơ sở để tính lương hưu, đặc biệt từ 2025 trở đi.

Nâng tuổi về hưu là điều tất yếu!

Để giải quyết tình trạng này, PGS Long cho rằng việc nâng tuổi nghỉ hưu là điều tất yếu. Tuy nhiên, ông chỉ ra hai vấn đề là khi nào tăng và tăng như thế nào. Lấy ví dụ về Thuỵ Điển, ông cho biết, để tăng thêm được 3 năm làm việc của người lao động (từ 65 lên 68), Thuỵ Điển đã mất 12 năm, tức là trung bình cứ 4 năm mới nâng được 1 tuổi, chứ họ không nâng một lần như một số khuyến nghị cho Việt Nam.

Vấn đề thứ hai là nâng tuổi hưu lên mức nào? Ví dụ, ở Việt Nam là nâng tuổi hưu cho nam lao động từ 60 tuổi lên 62 hay như các nước khác là 65 hoặc hơn và cho nữ lao động từ 55 thành 60 luôn hay phải qua các bậc tuổi 57, 58…? Ông Long đặt ra câu hỏi.

Theo ông, dù nâng như thế nào thì các cơ quan quản lý cũng cần căn cứ vào tuổi thọ mà cụ thể là tuổi thọ khoẻ mạnh của dân số.

“Tuổi thọ khoẻ mạnh được tính bằng tuổi thọ trừ đi số năm đau ốm trung bình. Báo cáo quốc tế cho thấy dù tuổi thọ của Việt Nam tăng lên, nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh của người Việt lại thay đổi ít, trong khi các nước khác như Malaysia, Thái Lan có tuổi thọ tương đương Việt Nam nhưng tuổi thọ trung bình của họ lại cao hơn” ông Long nói.

Do vậy, nếu người lao động không đủ sức lao động sau ngưỡng tuổi nào đó thì việc tăng tuổi hưu sẽ không hiệu quả vì năng suất lao động không đủ bù đắp cho chi phí tiền công, tiền lương… cũng như chăm sóc ốm đau; Nói cách khác, xét trên góc độ kinh tế thì nâng tuổi hưu như thế hoàn toàn không có lợi.

Ông Long cũng nói thêm rằng, đã có nghiên cứu chứng minh rằng việc nâng tuổi hưu không ảnh hưởng tới việc làm của thanh niên như dư luận lo lắng và điều này cũng được chứng minh ở nhiều nước khác (như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản…)

Cũng theo ông Long, ngoài việc nâng tuổi lao động, cần gắn liền với tăng hiệu quả đầu tư bởi theo quy định của Luật hiện nay thì danh mục đầu tư còn khá hẹp và chỉ có đầu tư trong nước.

“Phân tích của Ngân hàng Thế giới cách đây vài năm đã chỉ ra rằng lãi suất thu hồi trung bình của quỹ BHXH còn chưa cao. Đây là vấn đề cần cân nhắc thêm để đa dạng hoá đầu tư, nâng cao lợi suất bởi đây là nguồn không nhỏ để đảm bảo sự cân đối của Quỹ trong thời gian dài hơn”, ông Long nhận định.

“Về việc này, Hàn Quốc đang làm rất tốt. Họ đầu tư quỹ NPS (National Pension System) ở nhiều danh mục và các khoản đầu tư này được thực hiện bởi nhóm các nhà đầu tư chuyên nghiệp và có kinh nghiệm quốc tế. Họ đầu tư trong và cả ngoài nước hiệu quả và có lợi suất cao. Việt Nam có thể học hỏi mô hình này trong tương lai”, PGS. TS Giang Thanh Long cho biết.

Đình Phương

Theo InfoNet

Formosa muốn tự nhập than để phát điện

Formosa nêu 2 lý do cho việc tự nhập khẩu than vào Việt Nam để phát điện: than trong nước không phù hợp và doanh nghiệp đã có kinh nghiệm nhập khẩu.

Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa (Formosa) vừa có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan cho phép doanh nghiệp này trực tiếp nhập khẩu than phục vụ cho nhà máy nhiệt điện tại KCN Nhơn Trạch 3, tỉnh Đồng Nai.

Doanh nghiệp cho biết từ khi đầu tư vào KCN Nhơn Trạch, Formosa đã xin phép các cơ quan Chính phủ cho phép doanh nghiệp được nhập khẩu than sử dụng cho nhà máy điện Đồng Nai do than trong nước có chất bốc thấp, không phù hợp với thiết bị công nghệ của Formosa. Đề nghị này đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ ngành liên quan báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên ngày 2-9-2016, Chi cục Hải quan Nhơn Trach đã hướng dẫn cho Formosa thực hiện các thủ tục nhập than. Theo đó, Formosa phải ký hợp đồng nguyên tắc với Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng Công ty Than Đông Bắc. Đây là hai DN đầu mối chính vẫn nhập than vào Việt Nam.

Formosa cho rằng việc nhập than về sử dụng cho nhà máy nhiệt điện của công ty này là hợp lý, được sự đồng thuận và phù hợp theo các văn bản của bộ ngành Việt Nam hiện nay.

Chỉ các doanh nghiệp chưa nhập khẩu than đá thì mới tìm ký hợp đồng với hai doanh nghiệp nói trên để tìm nguồn cung ổn định, chất lượng và giá cả phù hợp. Còn với Formosa đã có nhiều năm kinh nghiệm nhập khẩu, nguồn cung ổn định, chất lượng tốt và giá cả phù hợp rồi, Formosa không cần thiết phải ký kết với TKV và Tổng công ty than Đông Bắc.

Theo T.Hà

Người lao động

Hà Nội xây nhà máy xử lý nước thải 16.200 tỉ đồng

Sáng 7/10, thành phố Hà Nội khởi công xây dựng nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì) với tổng vốn đầu tư 16.200 tỉ đồng.

Quy mô xây dựng dự án bao gồm: nhà máy xử lý nước thải công suất 270.000 m3/ngày đêm và hệ thống thu gom, cống bao, hệ thống cống đấu nối (dọc hai bờ sông Tô Lịch, sông Lừ) và một phần sông Nhuệ với tổng chiều dài cống các loại khoảng 52 km.

Phần lớn hệ thống cống thu gom sẽ được thi công bằng công nghệ khoan kích ngầm, phương pháp này sẽ giúp tránh được việc vận hành phức tạp của các trạm bơm, quỹ đất yêu cầu nhỏ hơn.

Đặc biệt việc thi công cống được thực hiện dưới các dải cây xanh và dưới lòng sông, làm giảm ảnh hưởng xấu của hoạt động thi công lên hệ thống hạ tầng giao thông, hạn chế tác động tới môi trường và cư dân xung quanh.

Theo UBND thành phố Hà Nội, sau khi hoàn thành, nhà máy xử lý nước thải Yên Xá và hệ thống thu gom sẽ đưa toàn bộ nước thải của các quận Ba Đình, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Hoàng Mai, Hà Đông và huyện Thanh Trì về nhà máy xử lý.

Lãnh đạo Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, đây là lần đầu tiên, Thủ đô có một dự án xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải tập trung quy mô lớn với công suất 270.000 m3/ngày đêm.

Dự án kể trên sử dụng vốn ODA của Nhật Bản (JICA).

“Tổng mức đầu tư của dự án là 16.200 tỉ đồng, trong đó vốn ODA của Nhật Bản là 85%, vốn đối ứng của thành phố Hà Nội là 15%”-ông Phạm Văn Cường, giám đốc Ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội, đơn vị đại diện chủ đầu tư cho hay.

Với công suất 270.000 m3/ngày đêm, dự án xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải Yên Xá được kỳ vọng làm “sống lại” các con sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và một phần sông Nhuệ.

Phát biểu tại lễ khởi công, ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, dự án hệ thống xử lý nước thải Yên Xá là công trình trọng điểm, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc cải tạo môi trường, làm “sống lại” các con sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và một phần sông Nhuệ, góp phần tạo cảnh quan, sinh thái đô thị, phát triển bền vững Thủ đô.

Theo ông Chung, từ trước đến nay, nước thải của thành phố được thu gom bởi hệ thống cống, kênh mương rồi xả ra các hồ và bốn con sông thoát nước chính là sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Tô Lịch và sông Lừ. Vì vậy, nhiều kênh mương, sông, hồ trên địa bàn bị ô nhiễm nặng, tác động xấu tới điều kiện vệ sinh, điều kiện sống của người dân.

Trước đó, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết dự án nước thải Yên Xá thay vì hoàn thành năm 2021, nhưng sau đàm phán và thực hiện hàng loạt giải pháp rút ngắn tiến độ thi công, dự án này đã rút ngắn thời gian thi công được 2 năm, hoàn thành năm 2019.

Theo ông Chung, ban đầu các nhà đầu tư Nhật Bản yêu cầu tiến độ đến cuối năm 2021 mới hoàn thành. Tuy nhiên, ông Chung cho biết qua đàm phán và làm việc với các nhà tư vấn thiết kế, phía chủ đầu tư và các đơn vị thi công đã rút ngắn được thời gian thực hiện dự án 2 năm.

“Thay vì dự án hoàn thành vào năm 2021 thì sẽ hoàn thành vào năm 2019, qua đó tiết kiệm được 40 triệu USD”-ông Chung cho hay.

Chi tiết hơn, ông Lê Văn Dục, giám đốc Sở Xây dựng cho biết dự án này sẽ hoàn thành vào tháng 10-2019.

“Tiến độ dự án nhanh hơn vì thành phố đã có kinh nghiệm từ dự án thoát nước giai đoạn 2 của Jica và cũng không vướng các thủ tục giải phóng mặt bằng nữa”-ông Dục nói.

Theo ông Dục, kinh phí tiết kiệm được ngoài rút ngắn tiến độ thi công 2 năm còn có các khoản qua tiết kiệm từ chi phí tư vấn nước ngoài, chi phí quản lý dự án và cải tiến biện pháp thi công.

Theo Xuân Long

Tuổi trẻ

Thị trường khổng lồ 2.200 tỷ USD, doanh nghiệp Việt làm gì để vượt qua các ràn cản?

Các nước thuộc Liên minh Kinh tế Á-Âu được xem là thị trường xuất khẩu mới mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhắm đến. Nhưng làm thế nào để tiếp cận thị trường có quy mô 2.200 tỷ USD, với 183 triệu người tiêu dùng sẽ là bài toán cho không ít doanh nghiệp xuất khẩu.

Sẽ không phải là một thị trường quá xa với doanh nghiệp theo nhìn nhận của các đại diện Đại sứ quán đến từ Liên minh Kinh tế Á – Âu (bao gồm các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan).

Từ con số kim ngạch thương mại hai chiều hiện ở mức 4 tỷ USD, lên tới 10 – 12 tỷ USD đến năm 2020 là một con số được xem là khá tham vọng. Tuy nhiên, đại diện các cơ quan chức năng của cả Việt Nam và các nước thuộc Liên minh đều cho rằng, hoàn toàn có khả năng đạt được khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU) chính thức có hiệu lực vào ngày 5/10 vừa qua.

Trao đổi với chúng tôi, ông Đặng Hoàng Hải, Vụ trưởng Vụ thị trường châu Âu (Bộ Công Thương) cho biết với Hiệp định này thì nhiều ngành hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam như dệt may, da giày, thủy hải sản, nông sản, linh phụ kiện… sẽ có nhiều cơ hội hơn.

Thị trường trong tầm tay

Theo cam kết, Hiệp định sẽ giảm hoặc đưa về 0% gần như 90% mức thuế xuất hải quan nhập khẩu. Trong đó có 59% được giảm thuế ngay sau khi hiệp định bắt đầu có hiệu lực và 30% được giảm thuế trong giai đoạn chuyển tiếp đối với khoảng 10.000 hàng hóa.

Từ trước đến nay, các nước thuộc Liên minh Kinh tế Á – Âu không phải là thị trường xuất khẩu truyền thống cho các DN Việt Nam. Những rào cản về vị trí địa lý, rủi ro về thanh toán và những yêu cầu chặt chẽ về tiêu chuẩn kỹ thuật được đặt ra cho các sản phẩm hàng nhập khẩu, đặc biệt là hàng thực phẩm, nông thủy sản… đã khiến cho không ít DN xuất khẩu Việt Nam nản lòng khi thâm nhập vào thị trường này.

Tuy nhiên, theo các Đại sứ quán các nước thuộc Liên minh Kinh tế Á – Âu thì những rào cản này đang dần được dỡ bỏ khi FTA EAEU có hiệu lực. Theo Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Ca-dắc-xtan, vừa qua lãnh đạo một công ty đường sắt của nước này đã khảo sát ga Đồng Đăng và Tân Cảng và có đề xuất Bộ Giao thông Vận tải, Tổng công ty đường sắt xem xét khả năng tổ chức vận chuyển hàng hóa quá cảnh từ Việt Nam sang các nước Liên minh Kinh tế Á-Âu và ngược lại bằng container thông qua các ga giáp biên giới Việt Nam-Trung Quốc quá cảnh địa phận Trung Quốc.

Hoặc có thể vận chuyển từ các cảng biển Việt Nam tới bến cảng Ca-dắc-xtan thuộc cảng biển Liên Vân Cảng (Trung Quốc), nơi 49% cổ phần cảng biển thuộc về công ty đường sắt Ca-dắc-xtan. Từ đó, sẽ vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc tới Ca-dắc-xtan và các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Đối với những vướng mắt trong thủ tục hải quan, Đại sứ CH Belarus tại Việt Nam – ông Goshin V.A. cho biết một trong những mục đích chính của việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do là đơn giản hóa và tăng tốc độ thực hiện các thủ tục hải quan trong công tác xuất nhập khẩu hàng hóa, giảm thiểu các chi phí tạm thời và giá thành trong thương mại song phương. Nghĩa là không chỉ giảm thiểu hay bãi bỏ thuế hải quan mà còn giảm tối đa các chi phí cho cán bộ kinh tế đối ngoại khi thực hiện công tác thông quan.

Các rào cản đang dần được gỡ

Đáng chú ý là những hàng hóa đã được xuất trước khi Hiệp định có hiệu lực và hiện đang trên đường vận chuyển hay nằm trong kho bãi cũng được hưởng các định mức mới theo Hiệp định, tức là những hàng hóa đó có thể được miễn hoàn toàn hay được giảm thuế hải quan một phần theo quy định.

Đại diện Thương mại Nga tại Việt Nam - ông Kharinov V. N. thì cho rằng những cam kết được đưa ra sẽ là lợi thế, giúp cho các Dn tiếp cận được người tiêu dùng cuối cùng. Trong khi DN Việt Nam có lợi thế về hàng nông sản như trái cây, các sản phẩm ngành công nghiệp nhẹ, đồ da, thiết bị điện tử; thì DN thuộc Liên minh sẽ đưa các sản phẩm thịt sữa, lúa mỳ, bột mỳ, ngũ cốc, phân bón, dầu lửa và các sản phẩm từ dầu lửa, xe tải, lốp xe, thép, các loại đường ống, các sản phẩm ngành chế tạo máy vào Việt Nam.

Theo Vụ trưởng Vụ thị trường châu Âu, những rào cản xuất khẩu vào Liên minh Kinh tế Á – Âu đang dần được tháo gỡ. Đơn cử như thời gian vận tải sang Nga mất khoảng 80 ngày nhưng hiện đã có chuyến hàng chỉ mất 20 ngày. Còn về hỗ trợ thanh toán, khi Hiệp định có hiệu lực thì cả hai nước đều có hỗ trợ thanh toán bằng đồng nội tệ, đều mang lại lợi ích cho cả hai bên.

Với khó khăn về hàng rào kỹ thuật là rào cản lớn, song những nỗ lực của Chính phủ đã được cải thiện nhiều khi đặt vấn đề thẳng thắn về hàng rào, với lộ trình rõ ràng là thống nhất gỡ bỏ các hàng rào, tập trung cho hàng nông sản.

N. An

Theo Trí thức trẻ

50% dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam đến từ thiên đường thuế

Dù Việt Nam thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài song thực chất số tiền thuế thu về không lớn. Trong đó, một số địa danh đầu tư lớn nhất vào Việt Nam như Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, quần đảo British Virgin... đều là những thiên đường thuế.

Thông tin trên được chuyên gia của Oxfam đưa ra tại hội thảo về Thuế và Bất bình đẳng diễn ra chiều ngày 7-10.

Nghiên cứu của Oxfam chỉ ra, khủng hoảng bất bình đẳng diễn ra nghiêm trọng đe dọa tiến trình nghèo đói, khi 85 người giàu nhất thế giới sở hữu tài sản của 3,5 tỷ người. Đến năm 2016 thì 1% người giàu nhất thế giới sở hữu 50% giá trị tài sản toàn cầu.

Vụ rò rỉ thông tin về thuế gây chấn động là Hồ sơ Panama khi bị phát hiện ra, công ty Mossack Fonseca - được lập ra trốn thuế cho các tổ chức cá nhân. Cứ 10 phút, họ tạo ra một công ty ở nước ngoài.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các thiên đường trốn thuế đã tăng 4 lần từ năm 2001. Nguồn vốn đổ vào tăng nhanh gấp 2 lần GDP toàn cầu.

Nghiên cứu của Oxfam chỉ ra, thiên đường thuế là nền kinh tế nhân tạo. Đơn cử như quần đảo Cayman thu hút FDI nhiều hơn Brazil gấp 7 lần, nhiều hơn Trung Quốc gấp 3 lần, trong khi họ chỉ có 69 ngàn dân. Điều này cho thấy đây là một nền kinh tế ảo. Theo đó, một nửa giá trị thương mại toàn cầu được thông qua một thiên đường thuế.

60% giá trị thương mại toàn cầu là giữa các công ty của một tập đoàn. Theo Oxfam nơi tạo ra lợi nhuận lại không được khai báo để đóng thuế. Bởi thực tế các công ty đa quốc gia có thể chỉ phải trích 5% lợi nhuận cho các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp có nghĩa vụ phải chi trả. Những lợi nhuận này được chuyển tới thiên đường thuế.

Châu Á là nơi có số lượng lớn nhất các dòng tài chính phi pháp, chảy từ châu Á ra thế giới. Theo nghiên cứu có 65% là do lạm dụng, DN 30% tội phạm và 5% do tham nhũng gây nên, song đều là do chính DN lợi dụng vấn đề này. Theo ước tính, điều này dẫn tới các nước nghèo thất thoát 100 tỉ USD mỗi năm do trốn thuế.

Tại Việt Nam, 50% FDI đầu tư vào Việt Nam là đến từ thiên đường thuế nên lợi nhuận đều chuyển về đó. Dù Việt Nam thu hút nhiều đầu tư song thực chất số tiền thuế thu về khônq lớn. Trong đó một số nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam từ Hồng Kông, Singapore, quần đảo British Virgin... thì đều là những thiên đường thuế.

Việt Nam thường có thỏa thuận thuế APA (cơ chế thỏa thuận giá trước) cũng gây ra khó khăn trong ngăn chặn việc trốn thuế. Trong khi tại nhiều nước, do có lo ngại có thể xảy ra vấn đề tham nhũng khi có thỏa thuận này, nên nhiều quốc gia đã không ký thỏa thuận này.

Theo chuyên gia của Oxfam, có thể cấm vận với những dòng đầu tư đến từ thiên đường thuế. Người dân cũng có thể kiến nghị chính sách để đòi bình đẳng.

Để chuyển các lợi nhuận đến thiên đường thuế các doanh nghiệp làm bằng cách như chuyển giá, vay nội bộ và tài sản vô hình như thương hiệu, sở hữu trí tuệ... đều được đăng ký ở thiên đường thuế. Dù có nhiều cửa hàng ở khắp nơi song lợi nhuận thực tế được chuyển về thiên đường thuế.

Chuyển giá sẽ được thực hiện như sau: một sản phẩm được sản xuất ban đầu là Việt Nam sau đó bán thiên đường thuế với mức giá tăng lên rất cao, có thể từ 1 USD lên 100 USD. Khi bán sang nước thứ ba thì mức giá chỉ tăng thêm rất ít. Như vậy, lợi nhuận ở Việt Nam và nước thứ ba thu về rất thấp nên các tập đoàn nước ngoài chỉ đóng thuế rất ít, trong khi ở nước xuất khẩu thứ hai mặc dù có giá trị lớn nhưng đây là thiên đường miễn thuế nên không phải đóng thuế.

Khoản vay nợ nội bộ trong công ty cũng là hình thức chuyển giá, khó có thể biết được vì vấn đề này thuộc vào điều khoản bảo mật của doanh nghiệp. Khoản tiền này cũng đi qua nhiều nơi, do công ty mẹ yêu cầu công ty con phải vay, và phải trả khoản vay đó với lãi suất cao. Dẫn tới doanh nghiệp phải chuyển đi khoản tiền lớn về công ty mẹ, nên buộc phải thông báo là lỗ. DN này sau đó có thể đóng cửa hoặc di dời công ty sang nước khác mà không phải đóng khoản thuế nào.

Vấn đề là phải minh bạch hơn, thay đổi vấn đề là thuế cần được đóng ở đâu. Cần phải thay đổi ưu đãi thuế ở các quốc gia, chấm dứt những thiên đường thuế này. Những nội dung này lại không được OECD đưa vào, nên vấn đề này phải được đưa ra Liên Hiệp quốc.

An Ngọc

Theo InfoNet

Giảm thuế, lập 3 quỹ hỗ trợ doanh nghiệp

Khẳng định vai trò to lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), Chính phủ trình dự luật mới để bước qua giai đoạn DNNVV chỉ được khuyến khích chung chung...

Thay mặt Chính phủ trình xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật hỗ trợ DNNVV ngày 6-10, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định hàng loạt biện pháp mạnh hỗ trợ DNNVV, nhưng nhiều bộ lại có ý kiến khác mà theo ông Dũng là thiếu trách nhiệm và chủ yếu “soi xem có... ảnh hưởng gì tới bộ mình”.

Giảm 3-5% thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, một số chính sách hỗ trợ đã được quy định tại nghị định số 56/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV nhưng chỉ mang tính khuyến khích chung, chưa cụ thể, không quy định nguồn kinh phí dẫn đến việc thực hiện hỗ trợ DNNVV chưa hiệu quả. Trong khi cộng đồng DNNVV ở nước ta chiếm 97%, đóng góp to lớn cho nền kinh tế.

“Ở một số quốc gia, hỗ trợ DNNVV được quy định trong hiến pháp” - ông Dũng cho hay.

Theo dự luật, các DNNVV tới đây có thể sẽ được hỗ trợ từ tín dụng, tài chính, công nghệ, thuê mặt bằng, xúc tiến và mở rộng thị trường, thông tin và tư vấn, phát triển nguồn nhân lực và cung cấp dịch vụ hỗ trợ...

Dự luật cũng quy định tới ba loại quỹ hỗ trợ, bao gồm: quỹ phát triển DNNVV, quỹ bảo lãnh tín dụng và quỹ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo của địa phương.

Về hỗ trợ tài chính, dự thảo luật quy định: DNNVV được áp dụng mức thuế suất thấp hơn 3%, doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng mức thuế suất thấp hơn 5% so với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Về mặt bằng, doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế nào cho DNNVV thuê trên 30% diện tích đất công nghiệp thì ngoài việc được hưởng ưu đãi thuế và tiền thuê đất (nếu có), còn được giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần doanh thu cho DNNVV thuê.

Với cụm công nghiệp, nếu diện tích cho DNNVV thuê trên 50% thì cũng được giảm tới 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần doanh thu cho DNNVV thuê”.

Các bộ “đá” nhau?

Thống nhất cao với sự cần thiết và mục đích ban hành dự luật này, nhưng nhiều thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội e ngại về tính khả thi cũng như sự xung đột với quy định của các đạo luật khác.

Ví dụ, về các quỹ được quy định trong dự luật, báo cáo thẩm tra của thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận định đây là các quỹ tài chính nhà nước, hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng.

Trong khi việc thành lập quá nhiều quỹ mà hiệu quả thực chất đem lại chưa tương xứng, thường trực Ủy ban Kinh tế lo ngại các DNNVV khó tiếp cận các nguồn vốn, trong khi quỹ gây áp lực cho ngân sách.

Than phiền về việc dự án luật chưa được trình theo đúng trình tự, đặc biệt là chậm gửi dự luật tới cơ quan thẩm tra, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển tiết lộ: “Dự án luật vẫn không tạo được sự đồng thuận của các bộ”.

Ông chỉ ra hàng loạt vấn đề có sự “vênh” nhau giữa ý kiến các bộ. Ví dụ theo tính toán của Bộ Tài chính thì nếu áp dụng chính sách của dự luật, ngân sách phải chi khoảng 20.000 tỉ đồng chứ không phải 13.000 tỉ đồng như tính toán của Chính phủ.

Bộ Tư pháp là đơn vị chủ trì thẩm định lại có ý kiến là hầu hết vướng mắc trong hỗ trợ DNNVV nằm ở khâu thực hiện chứ không phải do thiếu cơ chế hay do chưa có luật.

Đặc biệt, Bộ Tài chính thì gần như bác hết các điều kiện liên quan đến hỗ trợ về thuế; còn Ngân hàng Nhà nước thì đề nghị bỏ các quy định hỗ trợ thông qua công cụ chính sách tiền tệ; Bộ Công thương lo đến khả năng bị kiện ra Tổ chức Thương mại thế giới nếu một số quy định tại dự thảo luật được áp dụng.

“Tôi chỉ nêu ý kiến bốn “ông” như thế thì đã có chuyện rồi” - ông Hiển nói.

Giải trình về vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định Bộ Kế hoạch - đầu tư đã thành lập ban soạn thảo, mời các bộ, ngành liên quan tham gia nhưng các bộ đều cử không đúng người tham dự, nay cử người này, mai cử người khác.

Ông Dũng cũng nói thẳng khi tham dự các cuộc họp góp ý thì hầu hết đại diện các bộ chỉ soi xem có... ảnh hưởng gì tới bộ mình, chứ không mang tư tưởng rằng đây là vấn đề lớn của đất nước, nhu cầu bức xúc của cộng đồng doanh nghiệp.

“Cách làm luật của các bộ, ngành xưa nay không đến nơi đến chốn, thiếu trách nhiệm. Nên dù ban soạn thảo rất công phu dự thảo nhưng không ai cho ý kiến đóng góp, rồi đẩy lên Thủ tướng, Chính phủ... Đã phải họp rất nhiều cuộc để ra được bản dự thảo cuối cùng trình lên Thường vụ Quốc hội hôm nay”.

Ông Dũng khẳng định sau khi Thủ tướng, các phó thủ tướng họp bàn quyết định, văn bản trình ra Thường vụ hôm nay là đã được thống nhất giữa các bộ. “Nên bộ nào có ý kiến khác là không có giá trị” - ông Dũng bày tỏ.

Tình trạng ý kiến các bộ “đá” nhau lại xảy ra một lần nữa vào cuối giờ chiều 6-10, khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự án Luật quy hoạch.

Sau phần trình bày của bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư, lần lượt thứ trưởng các bộ Xây dựng, Tài nguyên - môi trường đã phát biểu bày tỏ không đồng tình nhiều điều, khoản của dự luật.

Quốc hội nhiều nước làm đến 23-24g

Cùng ngày, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về nội dung, chương trình kỳ họp thứ 2 của Quốc hội dự kiến khai mạc ngày 20-10, diễn ra khoảng một tháng.

Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị Quốc hội “nên đổi mới cách thức làm việc, thảo luận hết ý kiến mới nghỉ”.

Theo ông Hiển, nếu 18g vẫn còn nhiều việc, đề nghị bố trí cho đại biểu ăn nhanh rồi thảo luận tiếp. “Tôi thấy nhiều quốc hội người ta cũng làm như vậy, thậm chí người ta thảo luận đến 23-24g”.

Dự kiến kỳ họp thứ 2, Quốc hội sẽ xem xét thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015; nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp...

Theo Lê Kiên

Tuổi trẻ

Đằng sau “bóng ma” doanh nghiệp FDI bỏ trốn

Theo thống kê của Bộ KH&ĐT, đến hết tháng 5/2013, cả nước có 518 doanh nghiệp (DN) FDI vắng chủ với tổng vốn đăng ký hơn 900 triệu USD. Việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đang tồn tại nhiều bất cập như vốn ảo lớn, dự án tiến độ rùa bò, DN bỏ trốn. Cách nào giải quyết thực trạng này?

Ông chủ DN FDI bất ngờ bỏ trốn khiến người lao động bơ vơ, để lại khoản nợ khổng lồ cho cơ quan thuế, bảo hiểm xã hội… Sở KH&ĐT các tỉnh liên tục gửi “trát” tìm nhà đầu tư nước ngoài để làm thủ tục thu hồi giấy phép. Điển hình như tỉnh Đồng Nai đang làm thủ tục thu hồi 26 dự án, năm 2015 đã thu hồi giấy phép 37 dự án.

Bỗng dưng mất tích

Khi chúng tôi đặt vấn đề tìm hiểu về DN FDI bỏ trốn, bỏ lại số nợ bảo hiểm xã hội (BHXH), đại diện Bảo hiểm xã hội huyện Mỹ Hào (Hưng Yên) hướng dẫn tới tìm hiểu Cty TNHH Sina Imtech đăng ký hoạt động tại xã Ngọc Lâm (Mỹ Hào, Hưng Yên).

Công ty có gần 300 lao động, thuê mặt bằng, nhà xưởng tại Công ty Hưng Thành (Ngọc Lâm, Mỹ Hào, Hưng Yên). Vào tháng 12/2013, khi công nhân đến làm việc, kho xưởng khóa kín cửa. Người lao động tìm mọi cách liên lạc với ban giám đốc nhưng không được. Lúc này cả cơ quan chức năng và người lao động “té ngửa” vì chủ DN đã bỏ trốn.

“Cty Sina Imtech chủ yếu sản xuất thiết bị điện tử như pin, sạc điện thoại. Giám đốc bỏ trốn, ngân hàng thì siết nợ máy móc. Khi tham gia niêm phong, tôi thấy toàn máy cũ, lạc hậu. Cty Hưng Thành đòi mặt bằng, nên số máy đó ngân hàng phải chuyển đi thanh lý. Công nhân bị nợ lương cũng đành chịu”, ông Nguyễn Xuân Sơn, Trưởng Công an xã Ngọc Lâm kể lại.

Ngoài người lao động, Cty Hưng Thành cũng mất số tiền thuê mặt bằng gần 2 năm chưa thanh toán của Sina Imtech. “Số tiền thuê mặt bằng chúng tôi bị quỵt khá lớn nhưng cũng không biết kêu ai vì có kêu cũng không xử lý được. Khi họ bỏ trốn, hoá ra giám đốc cũng là đi thuê. Kêu nhiều lại mất uy tín của công ty mình”, đại diện Cty Hưng Thành nói.

Theo thống kê của BHXH Mỹ Hào, đến nay Sina Imtech nợ hơn 620 triệu đồng. Sau khi công ty đóng cửa, công nhân nhiều lần tìm đến xin giải quyết nhận lại sổ bảo hiểm để nộp vào công ty mới nhưng không thể giải quyết.

“Đúng quy định, khi công ty quyết toán hết số nợ BHXH, chúng tôi mới chốt sổ và trao trả cho người lao động. Đến nay, giám đốc công ty bỏ trốn, sổ bảo hiểm cũng thất lạc, không biết ai đang cầm. Không có sổ, và còn nợ tiền nên chúng tôi không thể chốt sổ cho người lao động”, bà Nguyễn Thị Kim Dung, Giám đốc BHXH huyện Mỹ Hào, cho biết.

Ráo riết tìm nhà đầu tư bỏ trốn

Trên đây chỉ là một số trong nhiều vụ việc DN FDI dừng hoạt động, bỏ trốn khiến người lao động bơ vơ. Như Cty TNHH Gmie (Bắc Ninh) ngừng hoạt động vào tháng 6/2015 khiến gần 440 công nhân bị đẩy ra đường. Cty TNHH Tsoca ViNa (khu công nghiệp Biên Hoà 2); Cty TNHH Kỹ nghệ J&V (khu công nghiệp dệt may Nhơn Trạch)… nợ bảo hiểm 500-600 triệu đồng.

“Nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý đầu tư, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, UBND các tỉnh chắc chắn hạn chế và chấm dứt tình trạng DN bỏ trốn. Từ đó không còn cảnh người lao động bơ vơ, cơ quan chức năng mỏi mắt tìm nhà đầu tư”.

Ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài

“Theo thống kê của Bộ KH&ĐT, đến hết tháng 5/2013, cả nước có 518 DN FDI vắng chủ, với tổng vốn đăng ký hơn 900 triệu USD. Con số DN FDI bỏ trốn ở các địa phương qua các năm đều có nhưng từ 2013 đến nay chưa có tổng hợp chung gửi về Bộ KH&ĐT. Hai năm gần đây, các sở KH&ĐT liên tục thu hồi giấy phép đầu tư của dự án bỏ trốn, cho thấy sự quyết liệt, giải quyết xoá bỏ dự án không hiệu quả, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi”, ông Phan Hữu Thắng, nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, cho biết.

Theo quy định, sau 90 ngày kể từ khi đăng tải thông tin, nhà đầu tư không liên lạc, sở KH&ĐT các tỉnh sẽ làm thủ tục chấm dứt dự án theo quy định. Để đảm bảo môi trường đầu tư kinh doanh, các sở KH&ĐT khá mạnh tay chấm dứt dự án FDI ngưng hoạt động hoặc giải ngân chậm, không hiệu quả.

Tại Đồng Nai, đến 8/2016 còn 26 dự án FDI ngưng hoạt động với tổng số vốn 133 triệu USD. Trong đó chỉ có 2 dự án chưa giải ngân vốn, còn lại 24 dự án đã giải ngân một phần vốn đăng ký. Trước đó, vào cuối năm 2015, tỉnh này cũng thu hồi hơn 37 dự án FDI. Trong đó có 22 dự án vắng chủ, phần lớn các dự án đã ngưng hoạt động trên 5 năm.

Ông Cao Tiến Dũng, Giám đốc Sở KH&ĐT Đồng Nai cho biết, hiện có 2 nơi quản lý DN FDI là Ban quản lý các khu công nghiệp và Sở KH&ĐT tỉnh Đồng Nai. Một số DN do điều kiện kinh doanh thua lỗ, gặp khó khăn về vốn, điều kiện bất lợi nên đành chấm dứt hoạt động. Với DN bỏ trốn, sở liên lạc với lãnh sự quán, đề nghị họ can thiệp tìm nhà đầu tư. Nếu không tìm được sẽ xử lý theo đúng luật của Việt Nam.

“Với các dự án FDI không triển khai hoặc triển khai chậm, sở kiên quyết xử lý theo Luật Đầu tư, nhường cơ hội cho nhà đầu tư khác. Hạn chế thấp nhất số nhà đầu tư chiếm chỗ”, ông Dũng cho biết.

“Trát” tìm người liên tiếp được sở KH&ĐT các tỉnh phát đi. Mới nhất, Sở KH&ĐT Hưng Yên thông báo tìm nhà đầu tư Dos-Tex Việt Nam (Tây Ban Nha) làm thủ tục chấm dứt dự án (Cty này được cấp chứng nhận đầu tư năm 2009, tháng 11/2011, ngừng hoạt động và không còn khả năng trả nợ). 5 năm qua, chủ đầu tư cũng “biến mất”. Hay Sở KH&ĐT Hải Phòng vừa công bố tìm chủ đầu tư của hàng loạt dự án FDI như Cty TNHH Vinabel (Bỉ); Nhà máy Fiber Goods (Hàn Quốc)…

Theo Quỳnh Nga

Tiền phong

Đề xuất đầu tư gần 230.000 tỷ làm cao tốc Bắc - Nam

Bộ Giao thông Vận tải vừa trình Chính phủ đề án đầu tư tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông dài 1.372 km với thiết kế tốc độ 100 - 120 km/h, tổng mức đầu tư 229.829 tỷ đồng.

Theo tờ trình của Bộ Giao thông Vận tải (GTVT), ngành giao thông đang triển khai một số dự án cao tốc, dự kiến đến năm 2020 sẽ đưa vào khai thác 470 km. Do vậy, để thông toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam dài khoảng 1.800 km, sẽ phải đầu tư thêm 1.372 km từ nay đến 2020.

Tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía đông đoạn Hà Nội - TP.HCM được thiết kế tốc độ 100-120 km/h; các đoạn qua khu vực có điều kiện địa hình khó khăn sẽ đạt tốc độ thiết kế 60-80 km/h.

Tuyến đường có tổng mức đầu tư 229.829 tỷ đồng, trong đó, vốn nhà đầu tư huy động 136.286 tỷ đồng, vốn ngân sách Nhà nước 93.534 tỷ đồng (chiếm 40,7%).

Với chiều dài 1.372km, đề án phân chia thành 20 dự án thành phần, mỗi dự án được khai thác độc lập, phù hợp với khả năng huy động theo hình thức PPP (hợp tác công tư) có sự tham gia hỗ trợ của Nhà nước, thời gian thu phí nhỏ hơn 25 năm.

Trao đổi với báo chí, Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Nhật khẳng định, việc lựa chọn đầu tư tuyến đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía đông đoạn Hà Nội - TP.HCM trong giai đoạn trung hạn 2016-2020 hiện rất cấp bách.

Về nguyên tắc đầu tư, quan điểm của Bộ GTVT là các đoạn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông sẽ được thực hiện theo hình thức đối tác công tư (PPP), cụ thể ở đây là hình thức hợp đồng BOT có sự tham gia hỗ trợ đầu tư của Nhà nước.

Để đảm bảo khả năng huy động nguồn vốn, phương án tài chính và hiệu quả đầu tư, Bộ GTVT đã nghiên cứu và đề xuất phân kỳ đầu tư các đoạn tuyến theo nhu cầu vận tải.

Trong đó, các đoạn có dự báo nhu cầu vận tải đến năm 2030 trên 30.000 - 35.000 xe/ngày, đêm sẽ đầu tư với quy mô cao tốc 4 làn xe hoàn chỉnh, nền đường rộng tối thiểu 22 m, các đoạn có nhu cầu vận tải thấp hơn sẽ phân kỳ đầu tư 4 làn xe hạn chế với nền đường rộng 17 m.

Thứ hai, giai đoạn 1 đầu tư theo quy mô tối thiểu 4 làn xe hạn chế và giải phóng mặt bằng theo quy mô hạn chế. Trong đó, đoạn Hà Nội - Vinh và Phan Thiết - Dầu Giây có nhu cầu vận tải lớn, đầu tư quy mô 4 làn xe hoàn chỉnh, nền đường rộng tối thiểu 22 m, GPMB theo quy mô 4 làn xe.

Đoạn Vinh - Túy Loan và đoạn Quảng Ngãi - Phan Thiết có nhu cầu vận tải thấp hơn, đầu tư quy mô 4 làn xe hạn chế, nền đường rộng tối thiểu 17 m, giải phóng theo quy mô 4 làn xe hạn chế.

Thứ ba, đầu tư theo quy mô quy hoạch, trong đó, đoạn Pháp Vân - Nghi Sơn đầu tư quy mô 6 làn xe cao tốc, nền đường rộng tối thiểu 29m. Đoạn Nghi Sơn - Dầu Giây đầu tư theo quy mô 4 làn xe cao tốc, nền đường rộng tối thiểu 22 m.

Bộ GTVT dự kiến tiến độ thực hiện:

- Phê duyệt chủ trương/đề xuất đầu tư các dự án thành phần: Tháng 6-7/2017: - Phê duyệt dự án đầu tư: Hoàn thành từ tháng 12/2017-3/2018; - Phê duyệt hồ sơ thiết kế kỹ thuật, hồ sơ mời thầu: Hoàn thành từ tháng 6/2018-9/2018;- Lựa chọn nhà đầu tư: Hoàn thành trước tháng 12/2018; - Khởi công các đoạn tuyến: Chậm nhất vào tháng 5/2019; - Hoàn thành các đoạn tuyến: Chậm nhất tháng 12/2022.

Theo Hằng Nguyễn - CK

Zing

Tăng trưởng kinh tế: Chất lượng quan trọng hơn những con số

2/3 chặng đường của năm 2016 đã đi qua dù tăng trưởng kinh tế Việt Nam có nhiều dấu hiệu khởi sắc nhưng chưa thực sự vững chắc.

Tốc độ tăng trưởng 9 tháng ước tăng 5,93% vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm ngoái và cách xa so với mục tiêu Quốc hội đề ra là 6,7%. Để có thể đạt mục tiêu tăng trưởng trong những tháng còn lại của năm nay, đòi hỏi phải có những giải pháp quyết liệt, đồng bộ hơn nữa từ các cơ quan chức năng và doanh nghiệp.

9 tháng qua, môi trường đầu tư và kinh doanh cải thiện nên số doanh nghiệp thành lập mới tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp quay trở lại cũng tăng đột biến, ngược lại số doanh nghiệp phá sản, chờ phá sản đã giảm hơn 1.000 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước.

Cả nước thu hút được 16,43 tỷ USD vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm, bằng 95,8% so với cùng kỳ năm trước. Vốn giải ngân đạt 11,02 tỷ USD, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm trước. Đây được xem là một kết quả khá cao trong việc triển khai dự án đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài. Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục có bước tăng trưởng, xuất siêu 2,76 tỷ USD. Bên cạnh đó, lạm phát tiếp tục được kiểm soát và cơ bản ổn định.

Ông Hà Quang Tuyến, Vụ trưởng Vụ hệ thống tài khoản quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tăng trưởng qua từng quý vẫn cao lên và giữ được quý sau cao hơn quý trước. Một điều đặc biệt ở đây là tăng trưởng kinh tế của quý III/2016 có bước bứt phá mạnh mẽ, với mức tăng đạt 6,4% so với cùng kỳ năm 2015.

“Đây là mức tăng trưởng cao so với nhiều năm trở lại đây. Với đà của 9 tháng và nhất là quý III, kỳ vọng trong quý IV sẽ có sự tăng trưởng bứt phá so với các quý trước”, ông Tuyến lưu ý.

Theo Tổng cục Thống kê, trong mức tăng 5,93% của toàn nền kinh tế, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 0,65%, là mức thấp nhất so với cùng kỳ 6 năm gần đây. Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,86% của cùng kỳ năm trước.

Theo các chuyên gia kinh tế, những biến động bất thường của thời tiết, bội chi ngân sách cũng là vấn đề đáng lo ngại, cản trở cho những điều hành chính sách của Chính phủ. 9 tháng qua, thu ngân sách nhà nước ước đạt hơn 665.000 tỷ đồng. Trong khi đó, chi ngân sách nhà nước ước tính 819.000 tỷ đồng. Như vậy, mức bội chi lên đến hơn 154.000 tỷ đồng.

Ông Bùi Ngọc Sơn, Phó Trưởng phòng Phòng Kinh tế thế giới, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng, nợ công và kể cả nợ nước ngoài có giai đoạn đã bắt đầu chồng lấp và mức độ tăng lên nhưng đáng lo ngại là triển vọng kinh tế chưa có gì sáng sủa.

“Rõ ràng khi chúng ta vay nợ nhiều. Để trang trải nợ trong chi tiêu của Chính phủ, trong Ngân sách của Nhà nước tính đến năm sau có thể lên đến 30% là mức nguy hiểm. Tình trạng này sẽ dẫn đến việc thu được bao nhiêu là trả nợ hết, không còn đồng nào, hoặc là vay xong lại phải đi trả nợ luôn”, ông Sơn chỉ rõ.

2/3 chặng đường của năm 2016 đã đi qua, kinh tế Việt Nam có nhiều dấu hiệu khởi sắc nhưng chưa vững chắc do nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế còn gặp khó khăn, thách thức. Do đó, nhiều ý kiến cho rằng, mục tiêu tăng trưởng 6,7% trong năm nay là khó đạt được.

Theo Báo cáo cập nhật kinh tế Đông Á - Thái Bình Dương vừa được Ngân hàng Thế giới công bố, dự báo tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm nay đã bị hạ xuống còn 6,0%. Trước đó, nhiều tổ chức trong nước và quốc tế cũng đã có các dự báo cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Theo đó, kinh tế cả năm sẽ ở mức 6% cho kịch bản thấp và dưới 6,5% ngay cả cho trường hợp có nhiều điều kiện tăng trưởng thuận lợi hơn, song khả năng này là rất thấp. Tuy nhiên, Chính phủ vẫn kiên quyết không điều chỉnh hạ mục tiêu này và triển khai nhiều giải pháp để nền kinh tế thực sự bứt phá.

Ông Phùng Văn Hùng, Thường trực Ủy ban kinh tế của Quốc hội cho rằng, để tăng trưởng bền vững, Việt Nam phải tiếp tục tái cơ cấu nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Thứ nữa, Việt Nam phải kiến tạo và tạo lập một hệ thống doanh nghiệp trong nước đủ mạnh, đủ sức cạnh tranh trong tiến trình hội nhập, đấy mới là yếu tố bền vững cho tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Còn theo khuyến cáo của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam nên chú ý tới chất lượng tăng trưởng thay vì chỉ chú trọng vào con số và đưa ra các biện pháp kích thích ngắn hạn. Cần thực hiện tái cơ cấu, cải cách tài khoá và cải cách ngân hàng quyết liệt hơn nữa thì mới có thể khắc phục được các yếu kém vĩ mô và tăng cường tăng trưởng trong trung hạn.

Bên cạnh đó, cần điều chỉnh chi công, tăng cường hợp tác công tư và nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư công nhằm xóa bỏ yếu kém về cơ sở hạ tầng. Đồng thời, gỡ bỏ các hạn chế để tăng trưởng bền vững./.

Theo Cẩm Tú

VOV

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ: Trung ương sẽ bàn thảo về tích tụ ruộng đất để hút doanh nghiệp đầu tư

Đây là thông tin từ Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ với cử tri huyện Hương Khê và Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trong chuyến tiếp xúc cử tri mới đây.

Thực hiện chương trình tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, ngày 7/10, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cùng các đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh đã tiếp xúc cử tri tại huyện Hương Khê và huyện Cẩm Xuyên.

Thay mặt các vị đại biểu Quốc hội, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ ghi nhận những ý kiến đánh giá và kiến nghị của cử tri để gửi tới Quốc hội.

Liên quan đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, Trung ương sẽ thảo luận, ra nghị quyết về đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, trong đó có vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp.

Ngoài ra, để thu hút sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn, Trung ương sẽ bàn thảo về vấn đề tích tụ ruộng đất tuy nhiên, vẫn phải bảo đảm sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, trang trại.

Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 thông qua Kế hoạch tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với nhiều giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp.

Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành tích cực chỉnh sửa căn cơ 19 tiêu chí nông thôn mới, tập trung vào các tiêu chí nâng cao thu nhập, bảo đảm an toàn, an ninh cho nhân dân và tăng cường phân cấp cho Chủ tịch UBND tỉnh quyết định các vấn đề phù hợp với thực tiễn của địa phương.

Đề cập tới việc thực hiện chính sách hỗ trợ, bồi thường thiệt hại đối với sự cố môi trường biển do Công ty Formosa gây nên, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết sau khi xảy ra sự cố, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 722/QĐ-TTg và một số chỉ đạo hỗ trợ trực tiếp cho người dân. Nay sau khi hoàn thành thống kê, Thủ tướng ban hành quyết định hỗ trợ bồi thường cho 7 đối tượng kể cả gián tiếp và trực tiếp.

“Ai cũng muốn nhanh hơn nhưng trên thực tế, một thiệt hại nhỏ thống kê đã phức tạp rồi, sự cố này liên quan tới 4 tỉnh, nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực thì việc thống kê là rất phức tạp. Ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Nên mặc dù các cơ quan rất tích cực nhưng không thể nhanh được. Mấy hôm tới, số tiền 3.000 tỷ đồng ứng trước hỗ trợ đền bù thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp sẽ được phân bổ tới các địa phương. Ta phải tạo đồng thuận xã hội trong việc này”, Phó Thủ tướng nói.

Ngoài hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân gặp thiệt hại, Phó Thủ tướng cho biết Chính phủ tích cực chỉ đạo các bộ, ngành xử lý môi trường biển bảo đảm sinh kế lâu dài cho dân; tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển tàu cá công suất lớn, tàu dịch vụ hậu cần gắn với xây dựng các tổ, đội đánh bắt thủy sản để ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.

Trả lời những băn khoăn, kiến nghị của cử tri về công tác xây dựng pháp luật, phòng chống tham nhũng, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định Quốc hội, Chính phủ sẽ bảo đảm chất lượng sửa đổi của Bộ luật Hình sự. Tới đây, Chính phủ sẽ tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, lãng phí để đề xuất với Quốc hội các giải pháp căn cơ hơn.

Trước yêu cầu của cử tri về bảo đảm đời sống và tiền lương cho công chức, viên chức, Phó Thủ tướng cho rằng phải quyết tâm tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước và đời sống của công chức, viên chức. Đồng thời để để tăng lương thì phải triệt để tiết kiệm chi tiêu ở các cấp, các ngành.

Nam Dương

Theo Trí thức trẻ

Ai tạo ra “thiên đường thuế” như Panama?

Trong buổi trao đổi về “thuế và bất bình đẳng” của tổ chức Oxfam mới đây, có những con số và dữ liệu về các “thiên đường thuế” đáng giật mình. Vậy ai là người đã tạo ra những thiên đường thuế, tạo ra những bất bình đẳng lớn trong xã hội như hiện nay?

Việt Nam cũng có thể là một thiên đường thuế !

Năm 2013, 85 người giàu nhất thế giới bằng tổng số tài sản của 3,5 tỷ người nghèo nhất thế giới, đến năm 2016, con số này là 62 người giàu nhất tương đương 3,6 tỷ người nghèo nhất và 1% người giàu nhất thế giới chiếm số tài sản bằng 99% những người còn lại. Sự phân biệt giàu nghèo đang ngày càng nới rộng khoảng cách.

Nghiên cứu của Oxfam chỉ ra, khủng hoảng bất bình đẳng diễn ra nghiêm trọng đe dọa tiến trình xóa nghèo đói trên toàn thế giới. Một trong những nguyên nhân của sự bất bình đẳng về kinh tế trên thế giới là việc tồn tại của những thiên đường thuế.

Lấy ví dụ đơn giản, tổ chức này đặt vấn đề “bạn nghĩ sao nếu mình phải trả tiền cho một món đồ mà bạn không mua, không sử dụng?”, bất bình đẳng về thuế tại các thiên đường thuế hiện nay cũng như vậy. Nó giống như việc những người nghèo khổ, 99% của thế giới đang phải gánh trên vai số tiền thuế mà đáng ra 1% người giàu nhất thế giới phải đóng.

Vậy thế nào là thiên đường thuế? Và ai là người tạo ra nó?

Trả lời cho câu hỏi này, đại diện Oxfam bà Susana Ruiz Rodríguez cho biết: Thiên đường thuế có xu hướng chuyên môn hóa và đáp ứng nhu cầu của một vài cá nhân tổ chức như sau: Họ cung cấp mức thuế suất thực tế rất thấp, bao giồm cả mức thuế 0% cho cá nhân hoặc pháp nhân; Họ sử dụng pháp luật và phương thức hoạt động hành chính nhằm ngăn chặn trao đổi thông tin tự động cho mục đích thuế với các quốc gia khác; Họ sử dụng các điều khoản pháp luật hoặc hành chính nhằm cho phép các pháp nhân không cần công bố cấu trúc của doanh nghiệp (Bao gồm quỹ đầu tư, quỹ từ thiện, quỹ tài trợ…) hoặc chủ sở hữu tài sản hoặc quyền lợi.

“Và mỗi quốc gia đều có quyền quyết định khi muốn thành lập ra thiên đường thuế, quan trọng là tính bảo mật”, bà Susana nhấn mạnh. Bởi vậy, nếu Việt Nam muốn trở thành một thiên đường thuế cũng hoàn toàn có thể.

“Thiên đường thuế” hoạt động như thế nào?

Chia sẻ cụ thể hơn về hình thức hoạt động của các thiên đường thuế và cách thức “trốn thuế” của các doanh nghiệp qua các thiên đường này, bà Susana nói: Vụ hồ sơ Panama đã tiết lộ nhiều thông tin quan trọng. Ví dụ như một công ty ở Panama, cứ 10 phút lại thành lập một công ty ở nước ngoài. Hay quần đảo Cayman, có chưa tới 7.000 người dân vậy mà thu hút FDI lớn gấp 3 lần Trung Quốc có số dân là 2 tỷ người.

Thực tế những công ty “ảo” (offshone) được thành lập tại Panama chỉ là những hòm thư rất nhỏ, và chỉ tốn khoảng 79 USD để thành lập một công ty kiểu này.

Trên thế giới rất nhiều các thiên đường thuế, phân bổ ở khắp các nơi, tuy nhiên châu Á được đánh giá là nơi có dòng chảy tài chính phi pháp cao nhất thế giới. Dòng tiền này thì châu Á chảy tới các thiên đường thuế trên khắp thế giới. Trong số dòng tài chính phi pháp này 65% là đến từ doanh nghiệp, 30% là phạm tội và 5% là tham nhũng.

Các doanh nghiệp nước ngoài có đủ các chiêu trò để trốn thuế qua các thiên đường thuế và chúng ngày càng tinh vi hơn. Vụ việc được khui ra mới đây năm 2014 về thiên đường thuế luxemburg, Thụy Sỹ cũng từng gây chấn động thế giới. Nó được phát hiện khi người ta lần theo đường đi của một quả chuối từ Ecuador sang Anh, người ta đặt câu hỏi tại sao một quá chuổi ở Ecuador giá rẻ mạt mà sang Anh giá của nó lại đắt đỏ như vậy? Cuối cùng phát hiện ra rằng những quả chuối này đã phải đi qua rất nhiều thiên đường thuế, đội giá lên rất lớn, ví như quả chuối được mua ở Ecuador chỉ một đồng, khi qua các thiên đường thuế nó thành 100 đồng và tới Anh thì giá của nó là 101 đồng.

Theo bà Susana phân tích, việc chuyển giá này gây bất lợi cả cho người sản xuất ở Ecuador và người tiêu dùng ở Anh, chỉ có doanh nghiệp ở giữa là hưởng lợi. Họ thu lợi 99 đồng khi thực hiện các thao tác “ảo” ở các thiên đường thuế mà không phải mất một xu tiền thuế nào.

50% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là qua những “thiên đường thuế”

Việt Nam luôn nỗ lực thu hút FDI, trải thảm đỏ để mời các doanh nghiệp nước ngoài, tuy nhiên, chúng ta có thực sự được hưởng lợi tiền thuế đúng với lợi nhuận mà các doanh nghiệp FDI này tạo ra?

Theo nghiên cứu của Oxfam thì hiện nay 50% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là qua những thiên đường thuế, trong đó có một số địa danh đầu tư lớn nhất vào Việt Nam như Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, quần đảo British Virgin... đều có những thiên đường thuế. Theo phân tích của bà Susana thì điều đó có nghĩa là chúng ta gần như “chẳng được gì” trong số lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI.

Phân tích giải pháp cho tình trạng này, bà Susana cho biết: Các nước hoàn toàn có thể đưa ra những rào cản cần thiết với những địa danh đã có “tiếng xấu” là thiên đường thuế. Cụ thể, chúng ta cần đưa vào luật của quốc gia, yêu cầu các doanh nghiệp FDI khai báo cụ thể về các công ty con, hoạt động cụ thể để kiểm soát trước khi cho họ vào đầu tư.

“Panama sau khi bị lộ hồ sơ mật đã là có một cái danh rất xấu, nên các quốc gia hoàn toàn có thể dùng lệnh cấm vận với những khoản tiền đi qua quốc gia này”, bà Susana lưu ý.

Theo Nguyễn Thoan

Bizlive

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Dệt may: Nỗi lo không đạt mục tiêu đề ra

Còn chưa đầy 3 tháng nữa sẽ kết thúc năm 2016, tuy nhiên, ngành dệt may vẫn đang gặp nhiều khó khăn và dự báo sẽ không đạt mục tiêu đề ra từ đầu năm nay.

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), 9 tháng năm 2016, toàn ngành dệt may có tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) ước đạt 21,11 tỉ USD, tăng 6% so với cùng kỳ 2015, hoàn thành 68% so với kế hoạch đã đề ra.

Tuy nhiên, theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS, đây là con số tăng trưởng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây của ngành dệt may. Thậm chí, từ nay đến cuối năm, toàn ngành chỉ đặt mục tiêu đạt KNXK 28,5-29 tỉ USD, không đạt mức đặt ra từ đầu năm (31-32 tỉ USD).

Nguyên nhân của việc ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước sụt giảm nghiêm trọng về KNXK, ngoài những yếu tố khách quan tác động như: Nền kinh tế một số nước nhập khẩu dệt may của Việt Nam đang gặp khó khăn, sự kiện Brexit ở Anh… thì khó khăn của ngành dệt may bắt nguồn từ chính sách giữ tỉ giá của đồng Việt Nam ổn định hơn so với một số đồng ngoại tệ, khiến hàng hóa Việt Nam trở lên đắt hơn và giảm sức cạnh tranh với các nước.

“Hiện tình trạng khan hiếm đơn hàng đang xảy ra khá phổ biến, lượng đơn hàng của nhiều DN dệt may hiện mới chỉ bằng 70% so với cùng kỳ năm ngoái, nhiều DN còn đang tìm kiếm đơn hàng cho tháng 11-12/2016”, ông Vũ Đức Giang cho biết.

Đánh giá về thị trường nói chung, Chủ tịch VITAS cho biết, Việt Nam có 5 mặt hàng xuất khẩu dệt may chủ lực gồm: Quần áo, vải các loại, phụ liệu, sợi các loại và mặt hàng vải địa kỹ thuật, vải mành đều có mức tăng trưởng thấp và thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra. Đặc biệt, mặt hàng sợi các loại xuất khẩu rất tốt sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ nhưng đang bị nước này áp thuế chống bán phá giá và sắp tới Ấn Độ cũng sẽ áp loại thuế này với mặt hàng sợi của Việt Nam. Việc này được ông Giang nhận định là “tác động rất nguy hiểm tới ngành dệt may”.

Hướng đến các thị trường mới

Về kế hoạch những tháng cuối năm 2016, ông Vũ Đức Giang đưa ra dự báo xuất khẩu hàng dệt may năm nay đạt khoảng 28-29 tỉ USD, tăng 5% so với năm 2015, như vậy trung bình 3 tháng cuối năm, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam phải đạt ít nhất 2,5 tỉ USD.

Giải pháp đưa ra để đạt con số này, ông Giang cho biết, thực tế từ quý II/2016, khi thấy tín hiệu ngành dệt may “đi xuống”, các DN trong nước đã chủ động tìm ra một số thị trường mới như: Trung Quốc (Việt Nam đang xuất khẩu sợi, vải và quần áo sang thị trường này), Nga và Ấn Độ.

“Bản thân DN phải tự tìm ra hướng đi riêng cho mình và tìm ra các thị trường mới, gắn với đẩy mạnh phát triển công nghệ, đặc biệt với ngành may, để tăng năng suất mới có thể đạt được con số 2,5 tỉ USD trong 3 tháng tới”, Chủ tịch VITAS nói.

Ngoài ra, các DN cũng cần tập trung vào thị trường nội địa vì năm 2016 là năm thị trường nội địa có nhiều đột phá, rất nhiều các tập đoàn lớn, các cơ quan, bộ, ngành đã đặt hàng của DN trong nước như: Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam…

Về vấn đề thể chế, ông Giang cho biết, vừa qua VITAS đã tập hợp một khối lượng lớn kiến nghị của DN về một số quy định quản lý chuyên ngành bất hợp lý trình Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan liên quan để có hướng điều chỉnh, sửa đổi phù hợp. Một trong những kiến nghị được Bộ Công Thương tiếp thu là sẽ bãi bỏ Thông tư 37 về kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm giải phóng từ thuốc nhuộm azo. Nhiều kiến nghị khác cũng đang được Bộ Công Thương nghiên cứu sửa đổi hoặc đề nghị Chính phủ và các cơ quan liên quan rà soát, tháo gỡ.

Theo Phan Trang

Chinhphu.vn

Cả nước có 13 tỉnh thành đóng góp ngân sách, cải cách tiền lương cách nào?

Về vấn đề cải cách tiền lương, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng có nhiều khó khăn do ngân sách Nhà nước eo hẹp. “Cả nước chỉ có 13 tỉnh, thành phố đóng góp cho ngân sách Trung ương để phân bổ cho các tỉnh còn lại. Trong khi đó, giá dầu thô giảm làm thu ngân sách Trung ương giảm liên tục...”

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã cho biết như vậy tại cuộc tiếp xúc cử tri tại Hà Tĩnh, ngày 8/10.

Trả lời những băn khoăn, kiến nghị của cử tri về công tác xây dựng pháp luật, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết Quốc hội Khóa XIII đã nỗ lực rất lớn để thông qua Hiến pháp năm 2013 và sau đó là hơn 100 luật để cụ thể hóa Hiến pháp, cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Riêng Bộ luật Hình sự (sửa đổi), các nhà quản lý, chuyên gia đã tiếp tục rà soát, phát hiện các lỗi sai để sửa đổi. “Tuy là lỗi kỹ thuật, không ảnh hưởng đến quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng nhưng nếu đưa vào thực thi cũng sẽ gây ra trở ngại khó khăn cho xã hội”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nói và khẳng định Quốc hội, Chính phủ sẽ bảo đảm chất lượng sửa đổi của bộ luật quan trọng này.

Chia sẻ với những lo lắng của cử tri về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh, Đảng luôn coi trọng thực hiện và các cơ quan Nhà nước sẽ xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ để đấu tranh với loại tội phạm này.

“Tới đây, Chính phủ sẽ tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, lãng phí để đề xuất với Quốc hội các giải pháp căn cơ hơn”, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ nói.

Liên quan đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, Trung ương sẽ thảo luận, ra nghị quyết về đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, trong đó có vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp. Trung ương sẽ bàn thảo về vấn đề tích tụ ruộng đất để thu hút sự tham gia của doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhưng vẫn bảo đảm sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, trang trại trên cơ sở áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ để nâng cao giá trị sản phẩm.

Thêm vào đó, Chính phủ cũng chỉ đạo các bộ, ngành liên quan trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 thông qua Kế hoạch tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với nhiều giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp.

Đối với xây dựng nông thôn mới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia cho biết Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành tích cực chỉnh sửa căn cơ 19 tiêu chí nông thôn mới, tập trung vào các tiêu chí nâng cao thu nhập, bảo đảm an toàn, an ninh cho nhân dân và tăng cường phân cấp cho Chủ tịch UBND tỉnh quyết định các vấn đề phù hợp với thực tiễn của địa phương.

Trước yêu cầu của cử tri về bảo đảm đời sống và tiền lương cho công chức, viên chức, Phó Thủ tướng cho rằng phải quyết tâm tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước và đời sống của công chức, viên chức.

“Cả nước có 8 triệu người, tương ứng 10% dân số hưởng lương từ ngân sách trong đó có 600.000 công chức, 2,2 triệu viên chức giáo dục, 2,1 triệu cán bộ cấp xã và hưởng phụ cấp từ ngân sách, 3 triệu người hưởng lương hưu và phụ cấp người có công. Ta đang thực hiện Nghị quyết 39 của Bộ chính trị về tinh giản bộ máy để nâng cao chất lượng và lương cán bộ, một người làm nhiều việc”, Phó thủ tướng cho biết.

Về vấn đề cải cách tiền lương, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng có nhiều khó khăn do ngân sách Nhà nước eo hẹp. “Cả nước chỉ có 13 tỉnh, thành phố đóng góp cho ngân sách Trung ương để phân bổ cho các tỉnh còn lại. Trong khi đó, giá dầu thô giảm làm thu ngân sách Trung ương giảm liên tục. Năm 2016 dự toán 60 USD/thùng nhưng giá sau 9 tháng mới chỉ được 43 USD/thùng... Chưa kể thiên tai, hạn hán tác động tới nền kinh tế làm sụt giảm nguồn thu từ sản xuất, xuất khẩu nông nghiệp. Do đó để tăng lương thì phải triệt để tiết kiệm chi tiêu ở các cấp, các ngành”, Phó thủ tướng nói.

Đề cập tới việc thực hiện chính sách hỗ trợ, bồi thường thiệt hại đối với sự cố môi trường biển do Công ty Formosa gây nên, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đề nghị các cử tri của Hà Tĩnh cần tạo dựng đồng thuận của các tầng lớp nhân dân tới chính sách của Nhà nước.

Sau khi xảy ra sự cố, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 722/QĐ-TTg và một số chỉ đạo hỗ trợ trực tiếp cho người dân. Nay sau khi hoàn thành thống kê thì Thủ tướng ban hành quyết định hỗ trợ bồi thường cho 7 đối tượng kể cả gián tiếp và trực tiếp.

“Ai cũng muốn nhanh hơn nhưng trên thực tế, một thiệt hại nhỏ thống kê đã phức tạp rồi, sự cố này liên quan tới 4 tỉnh, nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực thì việc thống kê là rất phức tạp. Ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Nên mặc dù các cơ quan rất tích cực nhưng không thể nhanh được. Mấy hôm tới, số tiền 3.000 tỷ đồng ứng trước hỗ trợ đền bù thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp sẽ được phân bổ tới các địa phương. Ta phải tạo đồng thuận xã hội trong việc này”, Phó thủ tướng nói.

Ngoài hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân gặp thiệt hại, Phó thủ tướng cho biết Chính phủ tích cực chỉ đạo các bộ, ngành xử lý môi trường biển bảo đảm sinh kế lâu dài cho dân; tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển tàu cá công suất lớn, tàu dịch vụ hậu cần gắn với xây dựng các tổ, đội đánh bắt thủy sản để ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.

Theo Mạnh Nguyễn

Bizlive

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Không thể để nông nghiệp mãi thiệt thòi!

Nông nghiệp làm được nhiều điều cho kinh tế, nhưng Nhà nước đang hỗ trợ nông nghiệp ít hơn những gì ngành này đáng được hưởng!

Đây là ý kiến của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bên lề một cuộc hội thảo về tận dụng không gian chính sách để hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa cách đây ít hôm.

Bà Phạm Chi Lan cho biết, dù cho không gian chính sách của Việt Nam đã bị “thu hẹp” hơn so với trước đây bởi những cam kết khi hội nhập nhưng Chính phủ vẫn có những khoảng trống tận dụng được tại thị trường trong nước. Trong đó, bà đặc biệt đề cập đến việc hỗ trợ cho ngành nông nghiệp.

“Tôi muốn nhấn mạnh cái mà chúng ta cần tận dụng trong thời gian tới là hỗ trợ đối với nông nghiệp”, bà Chi Lan nói.

Bởi theo vị chuyên gia này, nông nghiệp Việt Nam vẫn còn dư địa rất lớn để khai thác đồng thời có một vị trí quan trọng về mặt dân sinh.

Cụ thể hơn 65% dân số Việt Nam vẫn sống ở nông thôn và vẫn dựa vào nông nghiệp; 48% lực lượng lao động Việt Nam đang làm việc trong khu vực này. Ngoài ra, cho đến thời điểm hiện tại đây vẫn là ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh nhất.

“Nông nghiệp nếu thoạt nhìn có vẻ như chúng ta bị thua các nước khác, tuy nhiên, nếu nhìn rộng hơn, thì Việt Nam vẫn có lợi thế rất lớn trong lĩnh vực này”, bà Chi Lan nhận định.

Do vậy, bà cho rằng đây là lĩnh vực cần hơn cả để nghiên cứu sâu, định hình rõ ràng những chính sách hỗ trợ trong thời gian tới.

Không chỉ thay đổi, hỗ trợ ngành nông nghiệp vì tính cạnh tranh trên trường quốc tế, bà Chi Lan còn chỉ ra đây là việc bắt buộc phải làm vì nông nghiệp đang đứng trước thách thức lớn hơn bao giờ hết.

“Gần như chúng ta phải thay hoàn toàn cách làm nông nghiệp so với trước đây bởi biến đổi khí hậu, thiên tai. Từ thực tế ở Việt Nam đã đặt ra các vấn đề như tài nguyên thiên nhiên cần được khai thác hiệu quả, nuôi dưỡng về lâu về dài chứ không phải là tận diệt như bây giờ”, bà nói.

Bà Chi Lan cũng chỉ ra việc khoa học công nghệ cũng thay đổi liên tục đòi hỏi nông nghiệp có sự chuyển mình mạnh mẽ vì nếu không nông nghiệp Việt Nam không có cách gì đáp ứng được các chuẩn trên thế giới.

Mặt khác, theo bà Chi Lan, yêu cầu của người tiêu dùng trong nước về tính an toàn của nông sản cũng là yêu cầu lớn mà nông nghiệp cần làm vì đấy là nhu cầu tất yếu, là sinh mạng mà mấy chục triệu người dân, tương lai nòi giống Việt, đòi hỏi đó đặt nông nghiệp trước những thách thức lớn nên nông nghiệp cần phải tối đa không gian chính sách cho nông nghiệp.

“Việt Nam là nước đang phát triển nên vẫn được dùng 10% tổng sản phẩm nông nghiệp để hỗ trợ trở lại cho ngành nhưng từ trước đến giờ đã bao giờ chúng ta đã dùng hết chưa, chúng ta dùng thấp hơn rất nhiều. Nông nghiệp làm được nhiều cho ngành kinh tế, nhưng chúng ta lại đang hỗ trợ ít hơn những gì ngành đáng được hưởng. Thiệt thòi lắm!”, bà Phạm Chi Lan thở dài.

Đức Minh

Theo Trí thức trẻ

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Hợp nhất BQL Khu Kinh tế Dung Quất và BQL các Khu công nghiệp Quảng Ngãi

BQL Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi (gọi tắt là BQL) được thành lập trên cơ sở hợp nhất BQL Khu kinh tế Dung Quất đã được thành lập theo Quyết định số 72/2005/QĐ-TTg ngày 5.4.2005 của Thủ tướng Chính phủ và BQL các Khu công nghiệp Quảng Ngãi được thành lập theo Quyết định số 830/TTg ngày 7.10.1997 của Thủ tướng Chính phủ.

BQL là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ngãi, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.

BQL có tư cách pháp nhân, có tài khoản, trụ sở làm việc và con dấu hình quốc huy; kinh phí quản lý hành chính, kinh phí hoạt động sự nghiệp của Ban Quản lý và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch hàng năm; nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật.

Theo Hải Yến

Lao động