Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Cảnh báo nợ công của Việt Nam có nguy cơ vượt trần

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65% GDP) đang dần hiện hữu.

Theo Báo cáo của Chính phủ vào cuối tháng 3 vừa qua, nợ công (bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ của chính quyền địa phương) của Việt Nam đã chiếm 65% GDP, riêng nợ nước ngoài của Chính phủ đã vượt ngưỡng 50% cho phép, chiếm 50,3% GDP. Còn trong báo cáo mới nhất điểm lại nửa chặng đường của năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65% GDP) đang dần hiện hữu.

Thực trạng sử dụng ngân sách không hiệu quả đang diễn ra phổ biến trên cả nước, cụ thể như: Dự án đạm Ninh Bình phải bỏ dở chừng vì đầu tư 12.000 tỷ đồng, mỗi năm lỗ 2.000 tỷ đồng. Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng) đã chi 7.000 tỷ đồng đến nay vẫn đắp chiếu, mặc cho máy móc, thiết bị hoen rỉ dần…. Nhiều dự án đầu tư công chậm tiến độ, đội vốn… như dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông (Hà Nội) khởi công tháng 10/2011, dự kiến hoàn thành vào năm 2015. Tuy nhiên, đến nay dự án này vẫn chưa đi vào sử dụng mà vốn đã đội vốn gần 7000 tỷ đồng, Dự án đường 5 kéo dài có tổng mức đầu tư là 3.532 tỷ đồng, đã chậm tiến độ tới 6 năm và mức đầu tư cho dự án cũng tăng gần gấp đôi...

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nêu ý kiến: “Đầu tư công khi dự toán là một, đến lúc thực hiện tăng lên gấp 2, gấp 3 lần. Cái đó thể hiện sự kém hiệu quả của đầu tư công, trong đó có thể là lãng phí, có thể thất thoát … vì vậy, đầu tư công trở nên kém tin cậy. Khi tính là một thì có hiệu quả nhưng khi thực tế tăng lên gấp 2, gấp 3 thì hiệu quả sẽ hoàn toàn biến mất”.

Trong khi đó, báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, hiện cả nước dư thừa khoảng 7.000 chiếc xe công, điển hình như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa 176 xe, Bộ Công Thương thừa 57 xe... Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn tiếp tục đề nghị được mua xe mới.

Tổng hợp báo cáo kiểm toán năm 2015 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy vẫn còn nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, như: mỗi năm Tổng Công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) lỗ 3.400 tỷ đồng; Tổng Công ty Xây lắp dầu khí lỗ 3.500 tỷ đồng; Binh đoàn 15 lỗ 470 tỷ đồng... Các chuyên gia cho rằng, các khoản nợ trong nước của các doanh nghiệp này thường được Chính phủ hỗ trợ dưới các hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ và để bù đắp phần chi tiêu ngân sách cho khu vực doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ sẽ buộc phải phát hành trái phiếu cũng khiến nợ công tăng cao.

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết: “Trong một nền kinh tế vận hành bình thường thì các doanh nghiệp tự vay tự trả. Vì nền kinh tế của ta là nền kinh tế đang phát triển, cho nên phải vận dụng rất linh hoạt việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp, để họ phát triển thì Chính phủ phải đứng ra bảo lãnh để họ vay vốn và doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ. Nhưng trong tình huống xấu nhất thì đúng là nhà nước phải chịu”.

Theo số liệu mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng thu ngân sách nhà nước trong 8 tháng qua đạt 603 nghìn 700 tỷ đồng nhưng đã phải chi ra 715 nghìn 200 tỷ đồng, tức là bội chi đã lên đến 111 nghìn 300 tỷ đồng. Ông Bùi Ngọc Sơn, Phó Trưởng phòng Phòng Kinh tế thế giới, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng, với điều kiện tăng trưởng kinh tế thấp như hiện nay, thu ngân sách khó có thể bảo đảm dự toán và nếu kinh tế tăng trưởng không đạt mục tiêu thì nợ công và bội chi cũng sẽ tăng. Nợ công và kể cả nợ nước ngoài có giai đoạn đã bắt đầu chồng lấp và mức độ tăng lên chính là vì như vậy.

Nhưng đáng lo ngại, theo ông Sơn, là triển vọng kinh tế của ta chưa sáng. Rõ ràng khi vay nợ nhiều, nguồn thu để trang trải nợ trong chi tiêu của Chính phủ, trong ngân sách của nhà nước tính đến năm sau có thể lên đến 30% là nguy hiểm. Nếu như thế thì thu được bao nhiêu đi trả nợ hết, hoặc là vay xong lại đi trả nợ luôn.

Theo các chuyên gia kinh tế, nợ công trong mấy năm gần đây tăng nhanh là do Việt Nam phải vay nợ mới để trả nợ cũ, và nếu đà nợ công vẫn cứ tăng đều như hiện nay thì nợ công sẽ vượt trần.

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, Việt Nam phải kiểm soát thật chặt nguồn vốn vay. Bên cạnh đó, cần nâng cao tính minh bạch của các dự án đầu tư công. Một trong những giải pháp có tính chất quan trọng là chúng ta phải quy trách nhiệm, xác định rõ ràng, không những trách nhiệm về mặt dân sự mà trách nhiệm cả về mặt hình sự nếu có những hiện tượng tham ô, lãng phí. Thực tế hiện nay vấn đề này Đảng và Nhà nước đã nhìn thấy nhưng việc làm có quyết liệt hay không lại là vấn đề cần phải bàn.

Hiện, nợ công của Việt Nam vẫn đang tiếp tục tăng cao và nghĩa vụ trả nợ cũng ngày càng lớn. Các chuyên gia kinh tế khuyến cáo, thời gian tới, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, thực chất hơn của hoạt động giám sát Quốc hội để kiểm soát nợ công, cần tăng cường công cụ kiểm toán trong giám sát nợ công. Bên cạnh đó, cần chủ động ngăn chặn sự thất thoát, lãng phí đầu tư và chi tiêu công; xiết chặt và tăng cường kỷ luật, năng lực, hiệu quả quản lý, sử dụng nợ công; đồng thời, cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo tinh thần “phòng cháy hơn chữa cháy”./.

Theo Cẩm Tú

VOV

Vén màn thua lỗ tại PVC - Bài 2: Chi tiêu vô tội vạ

Bên cạnh việc đầu tư rót vốn tràn lan vào các công ty liên doanh, liên kết, việc thiếu năng lực quản trị, chi tiêu vô tội vạ đã khiến PVC từ một đơn vị mạnh của ngành dầu khí trở thành "gánh nặng" với những dự án đầy tai tiếng.

Bản báo cáo tài chính và báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh của PVC tại thời điểm gần cuối năm 2013 thừa nhận, nhiều khoản lỗ tại đơn vị xuất phát từ việc phát triển quá nóng dẫn đến trình độ cán bộ quản lý không theo kịp quy mô và tốc độ phát triển của đơn vị. Một lãnh đạo của đơn vị này cũng thừa nhận, công tác quản lý tài chính của PVC còn yếu, tại một số dự án, công ty thành viên có biểu hiện thực hiện sai nguyên tắc tài chính dẫn đến công nợ tạm ứng cá nhân lớn. Thanh toán tạm ứng vượt khối lượng tại nhiều đơn vị thành viên vượt quá quy định hợp đồng đã gây ra những khoản nợ khó đòi, rủi ro tài chính cho đơn vị.

Trả giá vì phát triển nóng

Được biết, riêng tiền tạm ứng cá nhân sai nguyên tắc tại công ty mẹ và các công ty tính đến thời điểm 30/6/2013 chốt trên sổ sách của PVC lên tới hơn 138,8 tỷ đồng. Các nhà thầu cũng được ứng thừa hơn 5.144 tỷ đồng khi thực hiện các dự án của PVC. Riêng phần công nợ phải thu của tổng công ty mẹ và các đơn vị thành viên thời điểm này cũng lên tới hơn 2.813 tỷ đồng. Việc chi tiêu quá tay khiến PVC không thể cân đối được nguồn vốn để trả lãi vay ngân hàng (năm 2012, chi phí lãi vay lên tới 123,1 tỷ đồng).

"Năm 2013, PVC không thể thu xếp được nguồn để trả tập đoàn theo kế hoạch nên đề nghị được giãn nợ. Công ty sẽ tăng cường và siết chặt quản lý điều hành sản xuất kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật, theo các quy định của tập đoàn, đặc biệt trong công tác quản lý tài chính. PVC sẽ tích cực triển khai công tác thu hồi nợ, đặc biệt là các khoản công nợ ứng vượt của nhà thầu và các khoản công nợ cá nhân".

Lãnh đạo PVC kiến nghị trong văn bản gửi PVN

"Do không có nguồn để trả lãi ngân hàng, dư ứng cho khách hàng lớn khiến nguồn vốn sản xuất kinh doanh của công ty mất cân đối trầm trọng. Việc trích trước lợi nhuận của một số dự án trong các năm trước dẫn đến PVC phải hạch toán lỗ vào năm 2012. Công tác bảo lãnh cho các đơn vị thành viên thiếu kiểm tra giám sát khiến PVC phải thực hiện trả nợ thay các đơn vị và trích lập dự phòng bảo lãnh hơn 126 tỷ đồng", lãnh đạo mới PVC thừa nhận trong văn bản gửi PVN sau khi ông Trịnh Xuân Thanh ra đi.

Theo vị này, các khoản đầu tư vào các công ty con, công ty liên kết dưới thời ông Trịnh Xuân Thanh hầu hết không hiệu quả.

Thậm chí, khi nhận chuyển nhượng các dự án bất động sản, các công ty hoạt động trong lĩnh vực bất động sản, các công ty xi măng, khu công nghiệp, lãnh đạo PVC không thực hiện đánh giá hiệu quả đầu tư, không thuê tư vấn độc lập thẩm định giá trị trước khi nhận lại dự án. Chính vì vậy, năm 2012 tổng công ty đã phải trích lập dự phòng hơn 480 tỷ đồng cho các hoạt động đầu tư tài chính. "Một số cán bộ điều hành, quản lý biến chất, thiếu đạo đức, có hiện tượng tham nhũng trục lợi tại PVC-ME, PVC-SG hiện đang được cơ quan công an xác định và làm rõ", lãnh đạo PVC cho biết.

Tạm ứng vô tội vạ

Theo tìm hiểu của PV, dưới thời ông Trịnh Xuân Thanh, việc quản lý tài chính tại các đơn vị được thực hiện rất lỏng lẻo. Ngay tại công ty mẹ PVC, số dư nợ tạm ứng cá nhân sau khi ông Thanh rời khỏi đây lên tới hơn 3.821 tỷ đồng. Trong đó, công nợ quá hạn và đến hạn là 3.352 tỷ đồng. Trong số tiền trên, các khoản trả trước mà công ty mẹ xếp vào diện khó đòi là hơn 2.363 tỷ đồng. Tại một số công trình khá tai tiếng của PVC, như công trình Nhà máy Ethanol Phú Thọ có khoản dư ứng hơn 54,5 tỷ đồng. Việc ứng thừa tiền hàng chục tỷ đồng cũng được ghi nhận tại các đơn vị như PVC-Vinaconex với hơn 43,7 tỷ đồng, PVC-ME với hơn 57,5 tỷ đồng…

Việc cho tạm ứng tiền cá nhân vô tội vạ cũng được ghi nhận tại nhiều đơn vị khác. Như tại Ban quản lý dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, số dư tạm ứng cá nhân đến thời điểm 30/6/2013 là hơn 645 triệu đồng. Trong một báo cáo của PVN sau này cũng cho thấy, số tiền ứng thừa tại ban quản lý dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 có hơn 79 triệu đồng đã được tạm ứng vượt khối lượng cho nhà thầu. Số tiền này sau cũng bị xếp vào diện khó đòi. Ban điều hành dự án Nhà máy sản xuất Ethanol cũng có tình trạng tạm ứng cá nhân vượt số lượng thực hiện hơn 668 triệu đồng. Ban điều hành Vũng Áng- Quảng Trạch cũng có các khoản trả thừa cho khách hàng hơn 737 triệu đồng và cho vay tạm ứng cá nhân 5 người với hơn 3,2 tỷ đồng.

Các khoản tạm ứng cá nhân, quyết toán thừa so với hợp đồng nhiều tỷ đồng ở nhiều công ty con cũng được ghi nhận trong báo cáo của PVC tại thời điểm ngày 30/6/2013. Như tại Công ty CP Xây lắp Dầu khí miền Trung, nhiều khoản tiền ứng trước cho cá nhân, doanh nghiệp được xếp vào diện nợ khó đòi với hơn 4 tỷ đồng. Ngoài ra, công ty này còn có 17 cá nhân (đã nghỉ việc) nợ tạm ứng hơn 923 tỷ đồng. Công ty CP Xây lắp Dầu khí Hà Nội có công nợ tạm ứng cá nhân quá hạn hơn 4,6 tỷ đồng. Công ty CP Thi công cơ giới và lắp máy Dầu khí có nợ tạm ứng cá nhân hơn 6 tỷ đồng. Trong đó có 10 cá nhân nợ hơn 5,8 tỷ đồng từ năm 2010 nhưng chưa thanh toán.

Theo Phạm Tuyên

Tiền phong

Bảng biểu ngân sách phải rõ thông tin về nợ công

Quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, dự toán ngân sách nhà nước sẽ có thay đổi...

Hệ thống bảng biểu phải phản ánh được tổng mức vay của ngân sách Nhà nước, bao gồm vay bù đắp bội chi và vay để trả nợ gốc của ngân sách Nhà nước.

Đây là ý kiến từ cơ quan thẩm tra, về dự thảo nghị quyết quy định về quy chế lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia, dự toán ngân sách Nhà nước, phương án phân bổ ngân sách Trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước hằng năm.

Nôị dung này được Chính phủ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến chiều 13/9. Theo quan điểm xây dựng, quy chế sẽ làm rõ hơn cơ chế phối hợp, tham gia giữa các cơ quan của Quốc hội với các cơ quan của Chính phủ trong quá trình lập dự toán ngân sách, xây dựng phương án phân bổ ngân sách Trung ương, tổ chức điều hành dự toán ngân sách Nhà nước.

Thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngân sách Nguyễn Đức Hải cho biết, Ngân hàng Chính sách xã hội có công văn đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội xem xét bổ sung ngân hàng này vào danh mục của cơ quan Chính phủ được phân bổ dự toán chi ngân sách năm như đối với Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Theo cơ quan thẩm tra, đề nghị này là hợp lý.

Về nội dung của dự thảo, một trong những điểm mới được Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng báo cáo là lập kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia. Một trong những nội dung quan trọng của kế hoạch này là xác định khung cân đối thu, chi ngân sách Nhà nước và giới hạn nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia...

Điều hành phiên thảo luận, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển băn khoăn khi chưa thấy quy định về lập, thẩm tra, quyết định kế hoạch đầu tư 5 năm tại dự thảo nghị quyết.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nói kế hoạch đầu tư công trung hạn chỉ là định hướng và xem xét việc này phải vô cùng thận trọng. Bởi nếu thông qua khung và định hướng trên cơ sở dự toán không đúng thì vô cùng nguy hiểm, có thể 5 năm sau sẽ có cả đống dự án đầu tư dàn trải, lãng phí, thất thoát.

Phó chủ tịch Phùng Quốc Hiển nhấn mạnh, càng như vậy thì càng phải kiểm soát, nên nghị quyết này vẫn cần phải quy định về căn cứ, thẩm quyền, nội dung báo cáo... liên quan đến kế hoạch đầu tư trung hạn 5 năm. Cần có quy chế chặt chẽ mới tránh được lãng phí, ông Hiển nói.

Thêm một lần đứng lên, Bộ trưởng Dũng lo lắng: nếu làm không thận trọng, thì sau 5 năm nhìn lại không biết có gánh nổi trách nhiệm hay không!

Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân nói, kế hoạch đầu tư công trung hạn không thể tách rời kế hoạch tài chính 5 năm.

Dự thảo nghị quyết sẽ tiếp tục được hoàn thiện trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định vào phiên họp của tháng sau.

Theo Nguyễn Lê

Vneconomy

Ngân hàng Thế giới: Nhiều trợ cấp, ưu đãi nên Lọc dầu Dung Quất hiệu quả thấp là điều “khó hiểu”

Hiệu quả hoạt động không tương xứng với quy mô của Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã khiến cho đại diện của Ngân hàng Thế giới (WB) thẳng thắn chỉ ra: “Đang có diễn biến hơi khó hiểu".

Theo bà Masami Kojima - đại diện Ngân hàng Thế giới (World Bank), mức thuế nhập khẩu xăng dầu từ các thị trường khác nhau là một trong những vấn đề đặt ra với các nhà máy lọc dầu.

"Cụ thể, thuế nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc, ASEAN rất thấp làm cho ngành lọc dầu không còn hấp dẫn nữa. Đây là vấn đề khá phức tạp với các nhà máy lọc dầu", bà Kojima cho biết.

Dẫn chứng từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất do Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) vận hành, vị chuyên gia WB phân tích: Dựa trên quy mô, nhà máy này hoàn toàn có đủ khả năng cạnh tranh tốt và có hiệu quả sản xuất. Chưa kể, BSR còn có rất nhiều ưu đãi về thuế, tài chính bên cạnh vị trí thuận lợi, nên kết quả hoạt động rất thấp theo WB là “diễn biến hơi khó hiểu”.

Việc Chính phủ trợ cấp cho năng lượng không phải lúc nào cũng tiêu cực theo đánh giá của WB. Bởi ngay cả ở những nước có thị trường năng lượng lớn mạnh thì chính sách trợ cấp chéo vẫn được duy trì để nhằm mục tiêu khác nhau về kinh tế, xã hội, nâng cao sử dụng năng lượng mới…

Tuy nhiên, vấn đề được chuyên gia WB đặt ra là “Các chính sách của Chính phủ liệu có thu được những lợi ích lớn hơn chi phí hay không và làm thế nào để đảm bảo rằng những khoản trợ cấp không làm méo mó thị trường?”.

Trở lại với câu chuyện của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, không những được ưu đãi về thuế, tài chính mà nhà máy này còn sử dụng nguồn dầu thô ngay trong nước. Do đó, lẽ ra chi phí để sản xuất và phân phối phải thấp hơn các nước khác.

“Nếu so sánh với sản phẩm lọc dầu của Singapore, họ phải mất chi phí vận chuyển 2 lần để nhập dầu thô đến nhà máy của họ và sau đấy phải xuất khẩu sang các thị trường tiêu thụ. Trong khi đó, BSR đang hưởng 2 ưu đãi về thuế quan trọng bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và có thể giữ lại số tiền thuế tương đương với ưu đãi. Tại sao có những lợi thế như vậy mà nhà máy không có hiệu quả?", bà Kojima so sánh và đặt câu hỏi.

Với thực trạng hoạt động như trên, đại diện WB cũng bày tỏ lo ngại rằng khi Bình Sơn đang có kế hoạch đưa nhà máy lọc dầu thứ 2 vào hoạt động thì cần phải đánh giá lại, tránh những tác động không tích cực đến khả năng tài chính của BSR.

Theo bà Phạm Kim Quyên - Ban Quy hoạch thị trường, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), mặc dù BSR có nhiều ưu đãi nhưng một trong những khó khăn đó là không được tự quyết giá vận chuyển.

Bên cạnh đó, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sẽ tiêu thụ dầu thô ngọt từ mỏ Bạch Hổ nên khi bán ra thị trường giá rất cao bởi ngay cả khi giá dầu xuống, do buộc phải mua giá dầu ngọt của Bạch Hổ có mức chênh nhiều với giá dầu chua.

"Nhìn chung, thị trường Việt Nam rất phức tạp, các chính sách trợ cấp cần phải đặt trong tổng thể lớn dựa trên các tiêu chí về kinh tế, an ninh năng lượng, phát triển về môi trường….", bà Quyên nói.

Chênh lệch thuế nhập khẩu xăng dầu được xem là nguyên nhân khiến cho Lọc dầu Dung Quất không thể cạnh tranh. Do đó, sau nhiều lần kêu cứu thì mới đây Thủ tướng đã đồng ý cho Lọc dầu Dung Quất được điều chỉnh thu điều tiết ngân sách tương đương với thuế nhập khẩu để có khả năng cạnh tranh hơn. Đồng thời, từ ngày 1/1/2017 sẽ cho công ty này thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, không nhận trợ cấp mà theo thị trường.

Trước quyết định của Thủ tướng, trao đổi với chúng tôi ông Trần Ngọc Nguyên, Tổng giám đốc BSR cho rằng với cơ chế này thì Lọc hóa dầu Bình Sơn có nhiều lợi thế hơn trên thị trường như vận chuyển, bảo hiểm, thanh toán bằng tiền VND, thời gian đóng thuế...

“Do đó khi cơ chế cho Bình Sơn được tự chủ thì chắc chắn các đầu mối sẽ quay lại mua tại nhà máy lọc dầu. Khi Dung Quất bán được nhiều thì nhà máy lọc dầu vận hành với công suất tối ưu và theo đó, mức nộp ngân sách cũng tăng thêm là 2.200 tỷ ...” – ông Nguyên tính toán.

Kế hoạch về mở rộng nhà máy, ông Nguyên cho biết đến năm 2021 sẽ hoàn thành với tổng vốn đầu tư là 1,8 tỷ USD và công suất nâng lên 30%, chế biến nhiều sản phẩm dầu thô. Đồng thời, theo lộ trình của Chính phủ thì cuối năm 2017 BSR bắt đầu IPO và hiện đang mời tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, phương thức cổ phần hóa để báo cáo Chính phủ.

M. Ngọc

Theo Trí thức trẻ

Các hãng bia ngoại "xếp hàng" chờ mua Habeco và Sabeco

Theo nguồn tin thân cận được Wall Street Journal trích dẫn, hiện đang có một số hãng bia nước ngoài quan tâm đến việc mua cổ phần của Sabeco và Habeco gồm Thai Beverage và Singha của Thái Lan, Kirin và Asahi của Nhật Bản, Heineken và Anheuser-Busch InBev của Hà Lan.

Một số trong những nhà sản xuất bia lớn nhất thế giới đang “xếp hàng” để có thể bước chân vào thị trường bia đầy tiềm năng ở Việt Nam, góp phần tạo nên một năm bận rộn với các thương vụ thâu tóm sáp nhập trên một trong những thị trường có tiềm năng tăng trưởng cao nhất ở châu Á.

Chính phủ Việt Nam đang muốn huy động hơn 2 tỷ USD từ việc bán cổ phần tại hai công ty quốc doanh đang sản xuất hai sản phẩm bia Sài Gòn và bia Hà Hội, kỳ vọng trong 2 năm tới sẽ lần lượt bán 90% và 82% ở Sabeco và Habeco.

Theo nguồn tin thân cận được Wall Street Journal trích dẫn, hiện đang có một số hãng bia nước ngoài quan tâm đến việc mua cổ phần của Sabeco và Habeco gồm Thai Beverage và Singha của Thái Lan, Kirin và Asahi của Nhật Bản, Heineken và Anheuser-Busch InBev của Hà Lan.

Eugene Gong, người phụ trách mảng M&A Đông Nam Á tại Deutsche Bank, nhận định đây là cơ hội hiếm có để thâu tóm những công ty đang dẫn đầu thị trường Việt Nam – một trong những nước tiêu thụ bia lớn nhất thế giới. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả những ông lớn trên thế giới đều đang quan tâm đến hai thương vụ này.

Heineken, Singha và AB InBev từ chối bình luận. Tuy nhiên, ThaiBev và Kirin cho biết họ sẵn sàng chờ đón cơ hội còn Asahi đã từng nói họ quan tâm tới Sabeco.

Thương vụ bán Sebco và Habeco cũng được coi là một phép thử cho cam kết mở rộng chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ. Theo bà Lương Thị Mỹ Hạnh, CIO của quỹ VietFund Management, điều này thể hiện quá trình cổ phần hóa đang được tăng tốc và cho thấy Chính phủ không chỉ quyết tâm tăng tính minh bạch mà còn muốn tái cơ cấu nền kinh tế một cách sâu rộng hơn. Quá trình cổ phần hóa Sabeco đã bị trì hoãn vài lần trong những năm qua.

Bán cổ phần ở Sabeco và Habeco cho nhà đầu tư ngoại cũng nằm trong làn sóng nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài, mở cửa chào đón dòng vốn ngoại của Việt Nam. Đã có nhiều dấu hiệu cho thấy kết quả bước đầu: kể từ đầu năm nay, tổng giá trị các thương vụ M&A đã lên tới gần 4 tỷ USD, cao nhất trong hơn 1 thập kỷ.

Dù con số 4 tỷ USD là nhỏ bé so với những thị trường lớn như Mỹ, đây đã là thành tích ấn tượng của Việt Nam và đã cao hơn khoảng 30% so với 10 năm trở lại đây (theo số liệu từ Dealogic).

Với hơn 90 triệu dân và nhu cầu về mọi thứ từ đồ ăn thức uống cho tới dịch vụ tài chính đều đang tăng lên, Việt Nam đang thu hút được làn sóng các công ty từ Nhật Bản đến châu Âu hào hứng tìm kiếm những mục tiêu tiềm năng.

Hồi tháng 7, công ty sữa Vinamilk được nâng room vốn ngoại lên 100% và công ty F&N của Singapore đang muốn tăng tỷ lệ sở hữu từ mức 11% hiện nay. Tháng trước, quỹ đầu tư của nhà nước Singapore thông báo mua 7,7% cổ phần của Vietcombank, ngân hàng có giá trị vốn hóa lớn nhất nước. Năm ngoái, tập đoàn Singha rót 1,1 tỷ USD vào các công ty con của tập đoàn Masan. Đây là thương vụ đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/WSJ

Minh bạch quyền lực của Bộ Công Thương

“Quyền lực của Bộ trưởng, của Bộ Công Thương tại dự thảo luật là rất lớn, vậy điều khoản nào để minh bạch quyền lực này?”, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng Phan Thanh Bình đặt câu hỏi về dự thảo Luật Quản lý ngoại thương.

Tiếp tục phiên họp thứ ba, sáng 14/9, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Quản lý ngoại thương.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh không có mặt. Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú trình bày tờ trình dự án luật.

Theo tờ trình, phạm vi điều chỉnh của luật chỉ tập trung quy định công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương, bao gồm quy định về các biện pháp quản lý, giải quyết tranh chấp trong hoạt động ngoại thương hàng hóa và các biện pháp phát triển ngoại thương.

Nhất trí với phạm vi này, song Thường trực Uỷ ban Kinh tế - cơ quan thẩm tra dự án luật - chưa đồng tình với một số quy định cụ thể.

Chẳng hạn, dự thảo luật giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.

Đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Kinh tế đề nghị quy định cụ thể danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu tại dự thảo luật nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cao, minh bạch, ổn định, dễ áp dụng. Việc hạn chế quyền tự do kinh doanh của tổ chức, cá nhân được thể hiện ngay trong luật, phù hợp với yêu cầu của Hiến pháp, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh nhấn mạnh.

Hay, dự thảo luật quy định Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan.

Còn tại thường trực cơ quan thẩm tra, đa số ý kiến đề nghị quy định Thủ tướng có thẩm quyền quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa vì việc này có liên quan đến nhiều bộ, ngành khác nhau.

Nhiều ý kiến tại cơ quan thẩm tra cũng nhận xét, các điều quy định thẩm quyền áp dụng trong dự thảo luật đều tập trung đầu mối là Bộ Công Thương.

Bên cạnh quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như đã nói trên, Bộ trưởng Bộ Công Thương còn có thẩm quyền công bố hàng hóa cần áp dụng hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, công bố lượng hạn ngạch, phương thức điều hành đối với từng hàng hóa áp dụng hạn ngạch thuế quan, quyết định công bố hàng hóa và cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tương ứng...

Chủ nhiệm Phan Thanh Bình nhận xét, đọc dự thảo luật có cảm giác nặng nề, khi thiên về quản lý nhiều hơn là phát triển ngoại thương.

“Quyền lực của Bộ trưởng, của Bộ Công Thương tại dự thảo luật là rất lớn, vậy điều khoản nào để minh bạch quyền lực này?”, ông Bình đặt câu hỏi.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đặt câu hỏi, luật giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, điều này hạn chế thế nào đến quyền tự do kinh doanh đã được hiến định? Mối quan hệ của Luật Quản lý ngoại thương với Luật Thương mại thế nào cũng là vấn đề được Chủ tịch nêu.

Trả lời những câu hỏi của Chủ tịch Quốc hội, Thứ trưởng Cẩm Tú khá lúng túng, ông loay hoay tìm tài liệu và chủ yếu nhắc lại nội dung đã nêu ở tờ trình.

Theo Nguyễn Lê

VnEconomy

Dự án 'trung tâm tro cốt' và bóng dáng ông Trịnh Xuân Thanh

Dự án Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình do liên danh Tổng Cty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) và Cty TNHH TM Hỗ trợ kiến thiết Miền núi (Cty Miền Núi) làm chủ đầu tư đến nay đã 17 năm vẫn giậm chân tại chỗ. Điều đáng nói sau khi trúng thầu, PVC đã "biến mất" khỏi dự án.

Dự án 17 năm "bất động"

Trao đổi với chúng tôi qua điện thoại, bà Hoàng Thị Kim Loan – Giám đốc Cty Miền Núi cho biết: Năm 2009, UBND quận Thanh Xuân quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất trên địa bàn làm Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình (chủ đầu tư dự kiến xây dựng 2 cao ốc kết hợp trung tâm thương mại và dạy nghề).

Dự án nằm trên phường Hạ Đình (quận Thanh Xuân) và xã Tân Triều (huyện Thanh Trì), trúng thầu là liên danh PVC (do ông Trịnh Xuân Thanh là Chủ tịch HĐQT, TGĐ) và Cty Miền Núi. Khi trúng thầu, nhà đầu tư phải hỗ trợ ngân sách TP Hà Nội 2 tỷ đồng.

Theo bà Loan, hợp đồng thoả thuận liên danh PVC sẽ góp 10% tổng mức đầu tư. Sau khi trúng thầu, PVC và Cty Miền Núi có họp với nhau được vài lần năm 2009. "Cty Miền Núi nhiều lần có văn bản đề nghị PVC đóng tiền nhưng họ không thực hiện cũng không có hồi âm. Kể từ đó, PVC hầu như "biến mất" khỏi dự án này" - bà Loan nói.

Vừa qua, Cty Miền Núi đề xuất UBND TP Hà Nội chuyển đổi dự án Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình, Trung tâm văn hoá tâm linh để kinh doanh đồ thờ và lưu trữ tro cốt. Để triển khai dự án, Cty Miền Núi đề xuất TP Hà Nội thu hồi hơn 15.000m2 đất tại phường Hạ Đình và xã Tân Triều.

Đến ngày 1/9/2015, UBND thành phố Hà Nội có văn bản 6010 "đồng ý về mặt nguyên tắc" với đề xuất của Cty Miền Núi. Tuy nhiên, đề xuất này đã vấp phải sự phản đối của nhiều hộ dân sinh sống quanh khu vực…

Bác đề nghị chuyển đổi dự án

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Tiến Cường, Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì, cho biết: Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình nằm trên đất quận Thanh Xuân và chỉ có một phần trên đất huyện Thanh Trì.

Ông Cường cũng đưa ra văn bản 8467 ngày 31/10/2014 của UBND Hà Nội, giao UBND quận Thanh Xuân và UBND huyện Thanh Trì tiếp tục thực hiện thu hồi đất, GPMB. Ông Cường cho rằng, văn bản này là căn cứ cho việc UBND huyện Thanh Trì lên phương án GPMB dự án.

Về việc này, Sở Quy hoạch & Kiến trúc Hà Nội cho rằng: Cty Miền Núi đề xuất bổ sung tạo lập một khu phục vụ cho thuê chỗ lưu trữ tro cốt tại công trình Trung tâm thương mại dịch vụ là chưa phù hợp với quy định tại quy hoạch nghĩa trang Thủ đô Hà Nội.

Bên cạnh đó, Cty Miền Núi đề xuất tăng chiều cao công trình từ 18 tầng lên 31 tầng là không phù hợp với quy hoạch phân khu đô thị H2-3, tỷ lệ 1/2000 được cấp thẩm quyền duyệt.

UBND quận Thanh Xuân cũng khẳng định, không đồng ý chuyển đổi dự án Trung tâm Thương mại Dịch vụ Hạ Đình thành dự án tâm linh…

Theo Minh Đức

Tiền phong

SCIC đầu tư 2 dự án tại Thái Nguyên

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đang xem xét triển khai đầu tư 2 dự án tại Thái Nguyên là Dự án xây dựng Bệnh viện C Thái Nguyên cơ sở mới và Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp Sông Công II.

Theo báo cáo, đối với dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện C Thái Nguyên cở sở mới, dự kiến được xây dựng trên địa bàn phường Cải Đan, thành phố Sông Công có tổng diện tích 4,59ha, với quy mô có thể đặt được 700 giường bệnh. Dự án đầu tư được đề xuất theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao – thuê dịch vụ (gọi tắt là hợp đồng BTL). SCIC sẽ đầu tư xây dựng hoàn chỉnh công trình, sau đó chuyển giao cho tỉnh và bệnh viện thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư. UBND tỉnh chấp nhận hoàn trả tri phí đầu tư và tiền lãi cho nhà đầu tư theo tiến độ hai bên cam kết.

Đối với dự án đầu tư hạ tầng KCN Sông Công 2, dự kiến được xây dựng trên địa bàn xã Tân Quang, thành phố Sông Công, gồm 2 dự án thành phần là: Dự án xây dựng hạ tầng KCN Sông Công 2 với tổng diện tích 250ha, tổng mức đầu tư 1,757 tỷ đồng; dự án xây dựng đường 36m nối KCN Sông Công 2 với quốc lộ 3 cũ và nút giao Sông Công với tổng mức đầu tư 200 tỷ đồng. SCIC kết hợp với một đơn vị có vốn góp chi phối và đơn vị khác cùng góp vốn thành lập công ty cổ phần để triển khai đầu tư xây dựng.

Về phía tỉnh Thái Nguyên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính phối hợp với đại diện Công ty SCIC và các sở, ngành liên quan xây dựng phương án đầu tư một cách chi tiết, cụ thể, đảm bảo các dự án được thực hiện một cách hiệu quả nhất. Về phía UBND tỉnh sẽ có văn bảo báo cáo lên Thường trực Tỉnh ủy để thống nhất chủ trương và hình thức đầu tư.

Theo Linh Nga

Diễn đàn doanh nghiệp

Doanh nghiệp Việt Nam - Hong Kong ký thỏa thuận thương mại trị giá 10 tỷ USD

Mười thỏa thuận hợp tác và hợp đồng thương mại có tổng giá trị lên đến 10 tỷ USD giữa các DN đã được ký kết trong chuyến thăm Khu hành chính đặc biệt Hong Kong của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chiều ngày 14/9.

Trước 300 nhà đầu tư dự Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư Hong Kong – Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ sự chờ đón các nhà đầu tư. Đây là diễn đàn đặc biệt do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Phòng Thương mại Trung Quốc tại Hong Kong và Phòng Thương mại Hong Kong – Việt Nam tổ chức.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thông báo về cuộc hội đàm giữa với Thủ tướng Trung Quốc và các lãnh đạo cấp cao, trên cơ sở thống nhất nhiều phương hướng chiến lược để nâng tầm quan hệ hợp tác hai nước sang giai đoạn phát triển mới, với trọng tâm là đẩy mạnh hợp tác kinh tế thương mại mạnh mẽ hơn nữa, chất lượng cao hơn, hiệu quả, bền vững hơn.

Đây chính là nền tảng quan trọng, là cơ hội thuận lợi cho sự hợp tác thành công giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các đối tác Trung Quốc nói chung và Hong kong nói riêng. Cho rằng Việt Nam sẽ là một trong những đối tác thương mại ASEAN lớn nhất của Trung Quốc, Thủ tướng thông báo năm 2016, hai bên phấn đấu kim ngạch thương mại song phương đạt 100 tỷ USD.

“Chúng tôi cam kết rằng Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Hongkong đầu tư vào những lĩnh vực mà mình có thế mạnh như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, dịch vụ vận tải biển, đầu tư cơ sở hạ tầng, linh kiện điện tử, công nghiệp phụ trợ, chế biến và tiêu thụ hàng nông sản” - Thủ tướng nói.

Thủ tướng mong rằng với vị thế là trung tâm tài chính hàng đầu khu vực và toàn cầu, Hong kong sẽ là thị trường thuận lợi để huy động các khoản tín dụng cho phát triển, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam.

Tiến sỹ Jonathan Choi, Chủ tịch Danh dự vĩnh viễn Phòng Thương mại Trung Quốc tại Hong Kong và cũng là Chủ tịch Phòng Thương mại Hong Kong – Việt Nam cho rằng Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều chương trình cải cách thị trường đầy tham vọng với những chính sách phù hợp để có thể mở rộng hơn nữa hoạt động thu hút đầu tư thương mại từ mọi quốc gia trên thế giới.

Quyền Trưởng Khu hành chính đặc biệt Hong Kong Rimsky Yuen nêu rõ, Hong kong sẽ tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam và hỗ trợ mạnh mẽ để doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Hong kong và Trung Quốc nội địa.

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc nhìn nhận: “Chuyến đi thăm chính thức tới Trung Quốc và tới Hong Kong lần này của Thủ tướng Chính phủ đã cổ vũ và thúc đẩy xu thế mở rộng đầu tư kinh doanh và hợp tác lâu dài cho các doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc nói chung và Việt Nam – Hong kong nói riêng”.

Tại Diễn đàn đã diễn ra lễ ký 10 thỏa thuận hợp tác và hợp đồng thương mại với tổng giá trị lên đến 10 tỷ USD giữa các doanh nghiệp. VCCI đã ký kết thỏa thuận hợp tác với 3 đối tác gồm: Phòng Thương mại Trung Quốc tại Hong Kong, Phòng Thương mại Hong Kong – Việt Nam và Ủy ban Phát triển Thương mại Hong Kong.

M. Ngọc

Theo Trí thức trẻ

Sống bám bảo hộ

Doanh nghiệp hăm hở xin làm dự án thép là do những đặc quyền, đặc lợi mà ngành này được hưởng. Do đó, chính sách quản lý của nhà nước cần điều chỉnh để hài hòa lợi ích kinh tế nói chung

Giới chuyên gia cho rằng giá thép của Việt Nam không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, thậm chí còn phải đánh đổi bằng hậu quả nặng nề về môi trường.

Hưởng lợi từ giá quặng rẻ

Mới đây, đại diện Công ty CP Tập đoàn Hoa Sen (HSG) đã khẳng định một doanh nghiệp (DN) làm thép lợi nhuận cả ngàn tỉ đồng chỉ trong một quý nên HSG “ngu gì không làm”.

Tuy nhiên, chuyên gia đến từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, cho rằng về tổng thể, ngành thép của Việt Nam không có tính cạnh tranh; thậm chí, các chính sách ưu đãi hiện hành làm méo mó, biến dạng thị trường thép, tạo ra môi trường thiếu lành mạnh và không hiệu quả.

Cụ thể, ông Tuấn giải thích sản xuất thép dùng 2 nguồn nguyên liệu là quặng sắt và thép phế liệu tái chế. Trong đó, dùng quặng sắt để chế biến thì sử dụng công nghệ lò cao, còn dùng thép phế liệu sử dụng công nghệ lò hồ quang. Đáng nói là chính sách cấm xuất khẩu quặng của nhà nước khiến DN khai thác chỉ bán được trong nước khiến giá quặng rất rẻ so với thế giới. “Có thời điểm, giá quặng trong nước chỉ bằng 50%-60% giá thế giới.

Những nhà sản xuất thép trong nước sử dụng lò cao được mua quặng trong nước với giá rất rẻ nên tạo ra sản phẩm giá thấp, lợi nhuận lớn. DN Việt Nam so về khả năng quản trị thì làm sao có thể vượt qua được các DN lớn trên thế giới nhưng lại có tỉ suất lợi nhuận hơn hẳn, lên đến 30%/năm. Ngành công nghiệp nặng nào có thể mang lại tỉ suất lợi nhuận ngất ngưởng như thế! Lợi thế đó chỉ có thể mang lại từ chính sách xuất khẩu quặng hiện nay” - TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhận định.

Do đó, theo ông Tuấn, đấy là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc HSG hăm hở “lao” vào sản xuất thép thay vì chỉ làm tôn. “HSG thấy lợi nhuận đến từ những đặc quyền, đặc lợi mà DN có thể có được từ chính sách nên mới đầu tư vào ngành công nghiệp thép lò cao gây ô nhiễm môi trường hơn nhiều so với thép tái chế” - ông Tuấn nói.

Bất lợi cho ngành khác

DN thép trong nước dù được hưởng lợi nhuận rất cao từ giá quặng rẻ nhưng vẫn không “quên” đòi hỏi thêm những ưu đãi khác từ chính sách bảo hộ của nhà nước, như chống bán phá giá. “Có DN được hưởng đặc quyền từ giá quặng rẻ nhưng vẫn đứng trong nhóm gửi đơn lên Bộ Công Thương đề nghị áp thuế tự vệ trước sản phẩm của Trung Quốc. Khi nào chứng minh được lợi nhuận của DN bị thu hẹp, thu nhập của người lao động giảm thì mới đòi áp thuế. Nếu có lợi nhuận lớn mà vẫn được áp thuế như vừa qua thì đây là câu hỏi lớn cần phải trả lời” - TS Đỗ Thiên Anh Tuấn đặt vấn đề.

TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhận định: “Để bảo vệ ngành thép, Chính phủ nâng thuế nhập khẩu khiến giá thép trong nước rần rần tăng lên. Nhờ bảo hộ, DN làm thép lãi lớn”.

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Trinh, cần lưu tâm mức độ bảo hộ hữu hiệu cho sản xuất bởi tăng thuế nhập khẩu những sản phẩm là đầu vào của các ngành khác thì việc bảo hộ thực chất chỉ là bảo hộ những DN sản xuất sản phẩm đầu vào này. Còn lại, toàn bộ nền kinh tế sẽ gặp bất lợi. “Theo tính toán, nếu tăng thuế nhập khẩu phôi thép từ 9% (năm 2015) lên 23,3% và thép dài lên 15,4% theo quyết định mới đây của Bộ Công Thương sẽ làm giá thép tăng từ 2%-4%. Điều này có thể khiến tổng giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế giảm 0,034%-0,07%. Từ đó, một số ngành sẽ bị ảnh hưởng rất lớn về giá trị gia tăng hoặc lợi nhuận” - ông Bùi Trinh phân tích.

Do đó, bảo hộ đối với ngành thép chỉ làm lợi cho số ít DN nên những DN khác lao vào chứ không mang lại lợi ích kinh tế nói chung. “Khi thép nhập khẩu rẻ hơn thép sản xuất trong nước thì sao lại bắt cả nền kinh tế phải chịu thiệt thòi để đáp ứng lợi nhuận cho một số ít công ty thép? Trong khi đó, thép sản xuất trong nước sẽ đội giá thành, đồng thời làm cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến môi trường. Như thế là đi ngược lại nguyên tắc bảo hộ một ngành khi nó có độ lan tỏa cao đến nền kinh tế trong nước và không làm cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến môi trường” - ông Trinh góp ý.

Cần xem lợi ích tổng thể

Giới chuyên gia cho rằng nhà hoạch định chính sách dù ở cấp trung ương hay địa phương khi phê duyệt dự án phải nhìn ở góc độ cả nền kinh tế. Cụ thể, hiệu quả của một dự án tạo ra cho nền kinh tế là đóng góp về mặt gia tăng sản lượng, làm tăng giá trị sản xuất, tạo nên giá trị gia tăng và đóng góp vào cải thiện thu nhập cho người lao động.

Tuy nhiên, một dự án cũng có thể lấy đi những nguồn lực của nền kinh tế như đất đai, nguồn nước, khoáng sản, môi trường sống của người dân. “Do đó, nhà quản lý phải nhìn dưới góc độ tổng thể chứ không thể chỉ tin vào hoạch định tài chính của DN bởi họ thấy lãi thì làm” - một chuyên gia lưu ý.

Ninh Thuận quyết cho xây nhà máy luyện cán thép

Về thông tin HSG sẽ xây dựng một nhà máy luyện cán thép ở vùng biển Cà Ná (huyện Thuận Nam) với công suất (giai đoạn 1) lên đến 16 triệu tấn/năm, UBND tỉnh Ninh Thuận đã từng lên tiếng rằng dự án này mới dừng lại ở việc “cho chủ trương đầu tư, còn thực hiện hay không phải chờ ý kiến của Chính phủ”.

Tuy nhiên, chiều 14-9, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Phạm Văn Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, khẳng định tỉnh đã thống nhất quan điểm quyết tâm thực hiện dự án thép ở Cà Ná. “Cơ sở pháp lý thực hiện là năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án luyện cán thép ở Cà Ná; hơn nữa, trong điều kiện tỉnh đang thu hút đầu tư nên việc xây dựng là hợp lý” - ông Hậu giải thích.

Cũng theo ông Hậu, tỉnh đã ký kết hợp tác chiến lược với HSG để đầu tư tổ hợp dự án ở Cà Ná, gồm 3 thành phần: nhà máy luyện cán thép 10,6 tỉ USD, cảng biển tổng hợp 800 triệu USD và KCN.

Do vậy, tới đây, HSG sẽ là nhà đầu tư thực hiện các dự án thành phần này. “Tỉnh còn phải tham vấn ý kiến của các bộ - ngành trung ương về hình thức đầu tư, trong đó lưu ý đến hình thức hợp tác nhà nước và DN (PPP) cùng thực hiện” - ông Hậu nói.

Hôm nay (15-9), theo kế hoạch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Trần Quốc Nam cùng một số lãnh đạo sở, ngành, địa phương có buổi làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tham vấn về thủ tục đầu tư của dự án cảng biển tổng hợp, 1 trong 3 dự án thành phần của tổ hợp do HSG đầu tư.

Ninh Thuận quyết cho xây nhà máy luyện cán thép

Về thông tin HSG sẽ xây dựng một nhà máy luyện cán thép ở vùng biển Cà Ná (huyện Thuận Nam) với công suất (giai đoạn 1) lên đến 16 triệu tấn/năm, UBND tỉnh Ninh Thuận đã từng lên tiếng rằng dự án này mới dừng lại ở việc "cho chủ trương đầu tư, còn thực hiện hay không phải chờ ý kiến của Chính phủ".

Tuy nhiên, chiều 14-9, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Phạm Văn Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, khẳng định tỉnh đã thống nhất quan điểm quyết tâm thực hiện dự án thép ở Cà Ná. "Cơ sở pháp lý thực hiện là năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án luyện cán thép ở Cà Ná; hơn nữa, trong điều kiện tỉnh đang thu hút đầu tư nên việc xây dựng là hợp lý" - ông Hậu giải thích.

Cũng theo ông Hậu, tỉnh đã ký kết hợp tác chiến lược với HSG để đầu tư tổ hợp dự án ở Cà Ná, gồm 3 thành phần: nhà máy luyện cán thép 10,6 tỉ USD, cảng biển tổng hợp 800 triệu USD và KCN.

Do vậy, tới đây, HSG sẽ là nhà đầu tư thực hiện các dự án thành phần này. "Tỉnh còn phải tham vấn ý kiến của các bộ - ngành trung ương về hình thức đầu tư, trong đó lưu ý đến hình thức hợp tác nhà nước và DN (PPP) cùng thực hiện" - ông Hậu nói.

Hôm nay (15-9), theo kế hoạch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Trần Quốc Nam cùng một số lãnh đạo sở, ngành, địa phương có buổi làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tham vấn về thủ tục đầu tư của dự án cảng biển tổng hợp, 1 trong 3 dự án thành phần của tổ hợp do HSG đầu tư.

M.Lễ

Theo Phương Nhung

Người Lao động

Singapore đầu tư đứng thứ 2 tại Việt Nam

Ngày 14/9, phát biểu tại lễ kỷ niệm 20 năm thành lập khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP), Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình đánh giá cao sự đóng góp của các doanh nghiệp Singapore tại Việt Nam.

Tham dự buổi lễ còn có ông Nguyễn Minh Triết, nguyên Chủ tịch nước, ông Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cùng Phó Thủ tướng Singapore Tiêu Chí Hiền.

Singapore hiện là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ hai tại Việt Nam với số vốn gần 38 tỷ USD, hơn 1.600 dự án. "Các dự án đầu tư của Singapore hoạt động hiệu quả, trải rộng trên khắp các tỉnh thành và có mặt hầu hết ở các ngành kinh tế của Việt Nam. Đóng góp tích cực vào việc tạo công ăn việc làm, tăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Mối quan hệ kinh tế thương mại - đầu tư tốt đẹp giữa Việt Nam và Singapore được ghi dấu bằng biểu tượng VSIP - một thương hiệu với bề dày 20 năm hình thành và phát triển", Phó Thủ tướng Trương Hòa Bình nói.

Hiện đã có 7 khu công nghiệp VSIP trên khắp ba miền Bắc - Trung - Nam của Việt Nam, tạo ra hơn 170.000 việc làm và được lựa chọn là địa điểm đầu tư, mở rộng sản xuất của nhiều tập đoàn, công ty hàng đầu thế giới như Microsoft, Pepsi, Unilever....

Theo Ngô Bình

Tiền phong

Bộ Tài chính hé lộ bán vốn Vinamilk, Habeco, Sabeco: "Có cô gái đẹp ra đi thì phải xem xét"

Vinamilk không chỉ là thương hiệu Việt Nam mà còn là thương hiệu vươn tầm khu vực và thế giới nên phải thuê tư vấn nước ngoài có đủ trình độ thẩm định giá, chứ không chỉ căn cứ vào giá trên thị trường chứng khoán.

Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Quyết Tiến, Phó Cục trưởng Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) chiều ngày 14/9 về kế hoạch cổ phần hóa, thoái vốn DNNN tại một số công ty có quy mô vốn lớn.

Tiến độ cổ phần hóa thoái vốn thời gian vừa qua khá chậm. Nguyên nhân tại sao?

Tôi cho rằng chậm ở đây là chất lượng CPH, quản trị vẫn còn chậm, như Sabeco, từ ngày CPH đến giờ 9 năm rồi không niêm yết và trong nội bộ lình xình về quản trị, nhân sự. Hay dự án thua lỗ, không hiệu quả như Gang thép Thái Nguyên. Nhiều DN lớn khi IPO nhưng không bán được và CPH mới chỉ là hình thức.

Nguyên nhân thì khách quan kinh tế tăng trưởng chậm, dòng vốn hạn chế, nhưng quan trọng nhất là các bộ ngành vẫn chưa quyết liệt làm. Do đó, tới đây, Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo Ủy ban Chứng khoán bổ sung thêm chế tài đối với nhưng đối tượng chậm niêm yết.

Một Chính phủ liêm chính thì các đơn vị thuộc Chính phủ, các DN thuộc Chính phủ, các bộ ngành phải minh bạch, phải niêm yết, phải đăng ký giao dịch (đưa thông tin hoạt động vào đối tượng giám sát). Khi niêm yết rồi thì phải bán vốn, có bán hay không thì phải đấu giá công khai. Việc thỏa thuận là cái cuối cùng, nếu ko bán hết cái kia thì mới thực hiện.

Mới đây theo chỉ đạo của Thủ tướng phải đẩy nhanh việc thoái vốn tại 12 DN trong đó có những đơn vị rất lớn như bia, sữa liệu có làm cho tiến trình này nhanh hơn không?

Với 10 DN của SCIC thì SCIC đã được Chính phủ giao nhiệm vụ rồi, sẽ thực hiện thoái vốn với Vinamilk trong năm nay. 9 DN còn lại cũng phải lên kế hoạch để thực hiện trong năm nay và năm sau.

Trình tự phải công khai minh bạch, đúng quy định, để đảm bảo quyền lợi Nhà nước và nhà đầu tư. Thẩm quyền do SCIC trình phương án.

Để tránh gây biến động trên thị trường khi quy mô Vinamilk lớn như thế, mà thoái đồng loạt thì sẽ ảnh hưởng đến các DN còn lại, người ta không mua những anh kia nữa. Cái ngon nhất mà mình bán hết năm nay thì năm sau thị trường èo uột, không hay.

Do đó, việc bán như thế nào thì giao cho chủ sở hữu quyết định dưới sự giám sát củ Bộ ngành để làm sao hiệu quả nhất và tránh gây biên động trên thị trường. Có thể bán nhiều lần và bán một lần. Lần đầu tiên đi bán hàng, lần đầu tiên có cô gái đẹp đi ra thì phải xem xét, chứ không bán hết năm nay thì năm sau người ta nói bán rẻ. Phải thậm trọng. SCIC sẽ lựa chọn phương án để có hiệu quả.

Phải thuê tư vấn đánh giá lại, tổ chức đấu giá, lấy giá trên thị trường chứng khoán làm tham khảo để đưa ra giá khởi điểm và có sự giám sát chặt chẽ của các bộ ngành, thì sẽ đảm bảo được giá hợp lý nhất.

Vậy thưa ông Vinamilk bán nhiều như vậy, liệu có tìm được nhà đầu tư chiến lược?

Với Vinamilk phải bán cho cả nhà đầu tư trong và ngoài nước. SCIC phải nghiên cứu, không thể bán được ở Việt Nam mà phải mời chào quốc tế. Quy mô của Vinamilk rất lớn, đối chiếu cách đây 2-3 tuần sau khi có ESOP thì quy mô đã hơn 100.000 tỷ đồng.

Nếu mà tung ra thị trường thì thị trường làm sao hấp thụ được, phải có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài mới đủ nguồn, anh nào trả cao nhất thì mua chứ không thể thỏa thuận được vì lợi ích Nhà nước là cao nhất, một cô gái đẹp mà bán rẻ thì không được.

Tư vấn cũng phải đủ trình độ để đánh giá lại. Vinamilk là một DN phát triển rất tốt về quản trị, thương hiệu rất giá trị. Trên thị trường chứng khoán, giá trị thương hiệu chỉ một phần còn có tầm nhìn, giá trị tương lai… thị trường chứng khoán chưa đánh giá hết được, nên phải có các nhà tư vấn đủ trình độ để định giá.

Vinamilk không chỉ là thương hiệu Việt Nam nữa mà đã là thương hiệu khu vực, thậm chí sang cả Mỹ. Phải đánh giá trong khu vực, ngoài nước với thương hiệu Vinamilk. Rõ ràng tư vấn quốc tế mới làm được, nếu ở Việt Nam không ai đánh giá được đủ tầm thương hiệu ấy, nên phải so sánh những nhãn hiệu, công ty ngoại khác.

Đơn cử, như vừa qua khi chúng tôi có hỏi một số DN nước ngoài về định vị một số cảng biển Việt Nam. Họ đánh giá theo cả tuyến đường đến cảng biến chứ không phải giá trị vị trí của cảng biển ấy đâu. Nó nằm ở đâu trên bản đồ khu vực và toàn cầu.

Nhà đầu tư quan tâm là làm sao đấu giá minh bạch?

Sẽ làm đúng luật thôi, còn quy trình như thế nào thì phải có cáo bạch, bản công bố thông tin như Luật Chứng khoán. Phải xây dựng quy trình đấu, đấu công khai, tổ chức tại nơi đấu giá công khai như các công ty chứng khoán, các sở giao dịch chứng khoán, trung tâm đấu giá để có được sự giám sát, kiểm tra.

Còn đối với Sabeco và Habeco, chưa bàn giao về SCIC, về mặt pháp lý vẫn thuộc Bộ Công Thương nên Bộ này vẫn là đại diện chủ sở hữu. Bộ Tài chính chỉ là cơ quan tham mưu, trong trường hợp thoái vốn mà BCT thấy cần có sự tham mưu của Bộ Tài chính và nếu thấy có vấn đề gì thì chúng tôi vẫn cảnh báo. Còn người chịu trách nhiệm chính vẫn là Bộ trưởng Bộ Công Thương.

Trong thời điểm giao thời, khi IPO có những trường hợp công ty con lại trúng thầu trong quá trình đấu giá. Vậy làm sao để ngăn chặn và nếu phát hiện thì xử lý ra sao?

Ngăn chặn bằng quy chế đấu giá. Luật không cấm một người mở nhiều DN, nhưng DN tham gia đấu giá không được chung lợi ích, nếu một người chỉ đạo thì sẽ có quân xanh quân đỏ ngay.

Cam kết của nhà đầu tư, nếu cùng một người bỏ vốn thì cam kết các hồ sơ phải đảm bảo tách biệt về nguồn tiền.

Khi phát hiện được rồi, thì với trường hợp công ty đại chúng, xử lý theo luật đều có rồi, có trường hợp thông thầu thì phát hiện được phải hủy. Nhưng không được để xảy ra như thế vì sẽ làm những nhà đầu tư chân chính nản lòng. Phải giám sát và quy định rõ từ khâu đấu giá ban đầu. Chúng tôi đề nghị tổ chức ở những nơi có chức năng về đấu giá.

M. Ngọc

Theo Trí thức trẻ

Thứ Tư, 7 tháng 9, 2016

Việt Nam xuất siêu hơn 1 tỷ USD vào Pháp

Theo thông tin mới nhất của Tổng cục Hải quan, hết tháng 7, nước ta xuất khẩu vào Pháp lượng hàng hóa trị giá gần 1,62 tỷ USD, tăng nhẹ 21 triệu USD so với cùng kỳ 2015; và nhập khẩu từ thị trường này lượng hàng hóa trị giá hơn 612 triệu USD, giảm tới 122 triệu USD so với cùng kỳ 2015.

Như vậy, hết tháng 7 nước nước ta tiếp tục duy trì vị thế xuất siêu vào Pháp với trị giá đạt hơn 1 tỷ USD.

Hiện nay nước ta xuất khẩu vào Pháp 25 nhóm hàng chính từ những mặt hàng công nghệ cao là đồ điện tử cho đến những sản phẩm truyền thống là các mặt hàng nông sản như thủy sản, rau quả, gạo...

Hết tháng 7 nước ta có 4 nhóm hàng hóa xuất khẩu vào Pháp đạt giá trị kim ngạch từ 100 triệu USD trở lên. Dẫn đầu là điện thoại các loại và linh kiện đạt 533 triệu USD; kế đến là giày dép 274 triệu USD; hàng dệt may 221 triệu USD; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 115 triệu USD.

ở chiều nhập khẩu, nước ta có 28 nhóm hàng chính nhập khẩu từ Pháp. Đến hết tháng 7 mới có 1 nhóm hàng đạt kim ngạch trên 100 triệu USD là dược phẩm đạt 178 triệu USD.

Theo T.Bình

Báo hải quan

Lợi nhuận của Viettel gấp 3,7 lần VNPT, MobiFone cộng lại

Tại hội nghị giao ban công tác quản lý nhà nước tháng 7, 8/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông sáng 6/9, lợi nhuận của các “đại gia” viễn thông 8 tháng đầu năm lần lượt được công bố.

Cụ thể, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT), ông Trần Mạnh Hùng cho biết, trong 8 tháng đầu năm 2016, tổng doanh thu của VNPT ước đạt hơn 83.000 tỷ đồng, bằng 63% kế hoạch năm. Về lợi nhuận, VNPT đã thực hiện được khoảng 66,5% kế hoạch năm, tương đương 2.838 tỷ đồng.

Với Tổng công ty Viễn thông MobiFone, ông Bùi Sơn Nam, Phó tổng giám đốc, cho biết, doanh thu của MobiFone trong tháng 8 đạt khoảng hơn 2.045 tỷ đồng, lũy kế 8 tháng đạt xấp xỉ 24.033 tỷ đồng, hoàn thành 67% kế hoạch Bộ Thông tin và Truyền thông giao, tăng trưởng khoảng 12% so với cùng kỳ năm ngoái.

Ông Nam cũng cho biết, về lợi nhuận trước thuế 8 tháng đầu năm, MobiFone đạt được 3.886 tỷ đồng, tương đương khoảng 74% kế hoạch năm. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu đạt mức 19,37% và nộp ngân sách nhà nước 3.704 tỷ đồng.

Trong khi đó, với mạng di động lớn nhất là Viettel, theo số liệu từ Phó tổng giám đốc Hoàng Sơn, tổng doanh thu của Viettel trong 8 tháng đầu năm nay đạt khoảng 144 nghìn tỷ đồng, tổng lợi nhuận trước thuế xấp xỉ 25.000 tỷ đồng.

Như vậy, lợi nhuận trước thuế của Viettel trong 8 tháng đầu năm gấp 3,7 lần lợi nhuận của Tập đoàn VNPT và MobiFone cộng lại.

Cũng liên quan đến hoạt động kinh doanh viễn thông, tại buổi họp giao ban trên, các nhà mạng đã kiến nghị Bộ Thông tin và Truyền thông bỏ quy định quản lý giá sàn điện thoại quốc tế chiều về để dịch vụ này khỏi bị sụt giảm doanh thu do cạnh tranh với các dịch vụ OTT.

Theo ông Bùi Sơn Nam, từ đầu năm đến nay, lượt điện thoại quốc tế chiều về của MobiFone giảm rất nhanh, tháng 8 giảm 15% so với tháng 7, do người dùng chuyển sang dùng dịch vụ OTT gọi miễn phí.

Ông Sơn cũng cho biết các đối tác nước ngoài của MobiFone đã kêu rất nhiều về việc quản lý giá sàn điện thoại quốc tế chiều về của Việt Nam.

Trong khi đó, ông Trần Mạnh Hùng cho hay, việc kinh doanh dịch vụ quốc tế của VNPT hiện ở tình trạng cả lưu lượng chiều đi và đến đều sụt giảm. Do đó, Bộ cần xem xét lại văn bản quản lý về mức giá sàn điện thoại quốc tế được ban hành từ năm 2014 đến nay đã không còn phù hợp nữa, ông kiến nghị.

Theo Thủy Diệu

VnEconomy

Thủ tướng hối thúc thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT-XH 2016

Thủ tướng Chính phủ vừa có Công điện 1576/CĐ-TTg về thúc đẩy hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016.

Nội dung công điện như sau: Qua 8 tháng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2016, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Tuy nhiên, tình hình sản xuất, kinh doanh trong nước còn khó khăn; tăng trưởng của cả ba khu vực kinh tế công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đều thấp hơn cùng kỳ; xuất khẩu tăng chậm lại. Tình hình thiên tai, thời tiết diễn biến bất thường, phức tạp, gây thiệt hại nặng nề đến sản xuất và đời sống của nhân dân, tác động đến tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn. Trong khi đó, kinh tế thế giới được dự báo phục hồi chậm, tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu giảm, giá một số hàng hóa cơ bản và dầu thô vẫn ở mức thấp.

Trước thời cơ, thuận lợi đan xen với những khó khăn, thách thức, nhiệm vụ đặt ra là hết sức nặng nề, khả năng đạt một số chỉ tiêu tăng trưởng đề ra trong kế hoạch gặp nhiều thách thức, đòi hỏi phải có sự quyết tâm lớn, đặc biệt là trong hành động. Để phấn đấu thực hiện đạt mức cao nhất các mục tiêu, chỉ tiêu của Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2016, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu:

Các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, tư nhân tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục nhanh nhất các mặt còn hạn chế yếu kém trong 8 tháng qua; đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành bằng những việc làm cụ thể, đột phá, mang lại hiệu quả thực chất; năng động, sáng tạo, quyết tâm phấn đấu, kiên quyết không điều chỉnh mục tiêu; chú trọng khâu tổ chức thực hiện để các chính sách mới đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả.

Thực hiện tất cả các nhiệm vụ, công việc được giao với trách nhiệm cao nhất gắn với vai trò người đứng đầu, đặc biệt là các nhiệm vụ, giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế nêu tại các Nghị quyết số 01/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2016, Nghị quyết số 19-2016/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia hai năm 2016-2017, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 35/NQ-CP về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020 và Nghị quyết số 60/NQ-CP về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công năm 2016.

Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan chịu trách nhiệm giải trình trước Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Quốc hội và Nhân dân nếu các chỉ tiêu thuộc ngành, lĩnh vực không đạt kế hoạch đề ra.

Thủ tướng Chính phủ kêu gọi các Hiệp hội ngành nghề, cộng đồng doanh nghiệp, các doanh nhân và toàn thể Nhân dân tranh thủ những thời cơ, khắc phục những khó khăn thách thức, tổ chức lao động sản xuất, đầu tư, kinh doanh có hiệu quả, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước các cấp tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp và Nhân dân tổ chức sản xuất, kinh doanh, đầu tư hiệu quả, đúng pháp luật; truyền cảm hứng sáng tạo và khởi nghiệp tới các doanh nhân, các nhà đầu tư, khát vọng vươn lên làm giàu cho mình và cho đất nước.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đề nghị các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các địa phương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể, các phương tiện thông tin đại chúng và Nhân dân tăng cường giám sát, tích cực phối hợp, tạo sự đồng thuận cao trong việc thực hiện các nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương theo luật định để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa, thúc đẩy các mặt công tác trên mọi lĩnh vực của các cơ quan đạt kết quả cao nhất.

Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan Trung ương các đoàn thể chỉ đạo tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên cùng quần chúng nhân dân tiếp tục đoàn kết, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2016./.

Theo TTXVN/Vietnam+

Thủ tướng, Điều 292 và Chính phủ biết lắng nghe dân

Sự lên tiếng mạnh mẽ của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị bãi bỏ Điều 292 của Bộ Luật Hình sự một lần nữa đã thể hiện tinh thần của Chính phủ kiến tạo và phục vụ, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp.

Tham vọng xây dựng một quốc gia khởi nghiệp, với hơn 1 triệu DN từ nay đến năm 2020 là một trong những thông điệp quan trọng mà người đứng đầu Chính phủ luôn nhắc đến kể từ khi nhậm chức đến nay, có thể bị “đe dọa” bởi chính những rào cản từ thể chế.

Bởi ngay sau khi có thông tin về Điều 292 quản lý kinh doanh qua mạng, cộng đồng các doanh nghiệp ICT và khởi nghiệp lo ngại rằng, việc đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực mạng internet, mạng viễn thông không những khó đáp ứng được yêu cầu của quy định luật, mà còn có nguy cơ bị khởi tố hình sự. Không ít hoang mang, lo lắng và cả những bức xúc dấy lên trong khắp cộng đồng khởi nghiệp, đặc biệt lĩnh vực công nghệ.

Đã có những công ty khởi nghiệp thẳng thắn tuyên bố, sẽ đầu tư sang các nước trong khu vực. Singapore là nước được lựa chọn nhiều nhất, khi đất nước này có nhiều ưu đãi cho các công ty khởi nghiệp (start-up) như miễn thuế, khấu trừ thuế khi mua sắm máy móc, thiết bị, giảm thuế và môi trường kinh doanh cũng có nhiều thuận lợi, an toàn để các star-up có thể phát triển.

Tháo nút thắt, gỡ bỏ rào cản

Phát động một quốc gia khởi nghiệp, nhưng với những quy định mà Điều 292 đặt ra lại được xem như một cản trở đối với những người khởi nghiệp trẻ. Trực tiếp điều hành các phiên họp Chính phủ tập trung là đẩy mạnh cải cách thể chế, sửa đổi các luật về đầu tư, kinh doanh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc hiểu rõ hơn ai hết, đâu là những rào cản đang "ngáng đường" doanh nghiệp.

Bởi vậy, trong bất cứ cuộc họp nào với các Bộ, ngành và địa phương, người đứng đầu Chính phủ luôn nhấn mạnh sự kiên quyết phải loại bỏ các rào cản trong quy định của pháp luật, tạo động lực cho cộng đồng doanh nghiệp trong đầu tư kinh doanh. Và rõ ràng, với quyết tâm này thì việc Thủ tướng nhắc đến Điều 292 như một ví dụ điển hình để đưa ra chỉ đạo, đề nghị phải bãi bỏ điều luật này là hợp lẽ.

Trước đó, không ít các doanh nghiệp start-up đã gửi đơn lên Quốc hội và Thủ tướng với hy vọng có thể bãi bỏ Điều 292. Cùng chung tiếng nói, nhiều cơ quan hiệp hội như Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ Công nghệ thông tin Việt Nam và Bộ Thông tin và Truyền thông cũng lên tiếng đề nghị bãi bỏ điều luật này.

Mặc dù đại diện Bộ Tư Pháp đã trấn an cộng đồng khởi nghiệp rằng Điều 292 không nhắm đến những doanh nghiệp khởi nghiệp mà cụ thể là các nhà sáng tạo phần mềm, mà tập trung vào những doanh nghiệp kinh doanh công nghệ vi phạm, làm ăn không chân chính. Hay trong cuộc họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bàn về việc lấy ý kiến đóng góp sửa đổi Điều 292, nhiều start-up khởi nghiệp đã được mời đến tham vấn, lắng nghe ý kiến đóng góp của chính những người chịu tác động. Nhưng sự hoang mang, lo lắng của cộng đồng khởi nghiệp vẫn còn nguyên đó cho đến khi nào Điều Luật này chưa được bãi bỏ.

Tạo dựng niềm tin

Cuối cùng, sự thống nhất cao trong các thành viên Chính phủ mà đứng đầu là chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, được chính một chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ nhìn nhận rằng, đó là một chiến thắng nữa của Chính phủ, của Thủ tướng nhiệm kỳ mới. Bởi giữa không ít hoài nghi đặt ra: “kiến nghị để làm gì”, “kêu than để làm gì”; “có thay đổi được gì đâu”; hay “không thay đổi gì đâu”… thì người đứng đầu Chính phủ đã có một tuyên bố đập tan đi những hoài nghi ấy.

Giữa lúc này, người ta nói rằng “cơn ác mộng” của các start-up Việt Nam đang dần qua đi. Theo quy định về trình tự thủ tục, còn nhiều bước nữa để Điều 292 chính thức không còn hiện diện trong Bộ Luật Hình sự sửa đổi, song yêu cầu dứt khoát, thẳng thắn của Thủ tướng đúng như những gì mà ông đã nói, tạo thuận lợi và tháo gỡ rào cản kinh doanh cho doanh nghiệp - không chỉ là lời nói nữa. Thủ tướng đang thực hiện cái điều mà chính ông yêu cầu, là phải rút ngắn con đường dài nhất Việt Nam là từ lời nói đến hành động.

Trong bối cảnh hiện nay, bỏ Điều 292 không chỉ là phá bỏ một rào cản, tạo ra một môi trường kinh doanh an toàn hơn, mà hơn thế Thủ tướng đã tạo niềm tin cho doanh nghiệp, đặc biệt là những người khởi nghiệp trẻ, để họ không đánh mất đi hoài bão và niềm tin giúp cho đất nước thay đổi, phát triển.

Một Chính phủ biết lắng nghe tiếng nói người dân, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp chắn chắn sẽ là nền tảng mạnh mẽ để thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội.

C. An

Theo Trí thức trẻ

Kinh tế “xanh”, kinh tế “nâu” và bài toán khó của Việt Nam

Đối với Việt Nam, làm thế nào để chuyển dịch nền kinh tế từ “nâu” (sử dụng nhiều tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi trường) sang “xanh” vẫn là bài toán khó.

Chiều 6/9, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ đã có có buổi tiếp thân mật với các thành viên Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam nhân sự kiện “Kinh tế xanh cho phát triển bền vững 2016” vừa diễn ra ở Hà Nội.

Tại buổi gặp mặt, Phó thủ tướng một lần nữa khẳng định lại quan điểm của Chính Phủ “không vì kinh tế mà bỏ qua môi trường”. Theo đó, Phó Thủ tướng nêu rõ kinh tế xanh là vấn đề Đảng, Nhà nước rất coi trọng.

“Chính phủ rất quan tâm vấn đề này. Nghị quyết 35 mà Chính phủ ban hành cũng đặt ra vấn đề doanh nghiệp phải xây dựng đạo đức, văn hóa doanh nghiệp, thực hiện quy định của pháp luật trong bảo vệ môi trường thiên nhiên, không vì phát triển kinh tế mà xem nhẹ môi trường”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nói.

Theo đó, từ 2013 Trung ương đã có chuyên đề thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường. Gần đây nhất là nhiệm vụ do Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 12 đặt ra cho cả nhiệm kỳ 2016-2020: “bảo vệ, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, ứng phó với biến đổi khí hậu”.

Nghị quyết cũng nhấn mạnh đến nâng cao sức tăng trưởng, đổi mới sáng tạo phát triển nhanh và bền vững, hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên Hợp Quốc.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2010-2020, tầm nhìn đến 2050 và có chương trình hành động cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương thực hiện; Thủ tướng ban hành Quyết định số 339 phê duyệt Đề án tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, theo hướng nâng cao hiệu quả năng lực cạnh tranh…

Đối với những vấn đề cấp bách trong xử lý, khắc phục hậu quả hạn mặn diễn ra tại một số vùng, Phó Thủ tướng cho biết các cơ quan đã chuẩn bị nội dung để thảo luận về các giải pháp tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu các giống cây trồng, vật nuôi thích ứng với biến đổi khí hậu, các giải pháp trữ ngọt, giảm mặn ở vùng này và Tây Nguyên.

Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cũng thẳng thắn khi cho biết phát triển kinh tế xanh vẫn còn nhiều vấn đề phải đặt ra ở Việt Nam, mà quan trọng nhất là nhận thức về nội hàm kinh tế xanh, tăng trưởng xanh còn khác nhau khi đây là mục tiêu hay phương thức để phát triển.

Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển đổi phải thực hiện một vấn đề “kép” là giải quyết những hậu quả về suy thoái kinh tế, môi trường do “kinh tế nâu” gây ra, nhưng mặt khác phải hướng tới kinh tế xanh và tăng trưởng xanh trong điều kiện nguồn lực hạn chế.

“Đó là những bài toán khó giải trong điều kiện của Việt Nam và các nhà khoa học, các doanh nghiệp, tổ chức thuộc Hội cần nghiên cứu, giúp Chính phủ có đáp án về những vấn đề này, cũng như cơ chế huy động nguồn lực cho phát triển xanh, vai trò của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân trong phát triển kinh tế xanh như thế nào…”, Phó Thủ tướng đặt hàng với Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam.

Ngoài ra, Phó Thủ tướng cũng cho rằng, thể chế và pháp luật cũng có vai trò quan trọng trong định hướng các hành vi tới mục tiêu phát triển bền vững, giải quyết hài hòa các vấn đề về kinh tế, xã hội và môi trường - 3 trụ cột của phát triển bền vững.

Nam Dương

Theo Trí thức trẻ

Nhật Bản cung cấp khoản vốn vay ODA 11 tỷ yen cho Việt Nam

Chiều 6/9, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Trung và Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Nhật Bản tại Việt Nam Hiroshi Fukada đã ký công hàm trao đổi về việc Chính phủ Nhật Bản cung cấp cho Chính phủ Việt Nam khoản ODA vốn vay tài khóa 2016.

Vốn vay tài khóa này có trị giá 11 tỷ yen để tiếp tục hỗ trợ Chính phủ Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài và hội nhập kinh tế quốc tế.

Phát biểu tại buổi ký kết, Thứ trưởng Nguyễn Văn Trung cho biết Nhật Bản là nhà tài trợ ODA song phương lớn nhất của Việt Nam. Khoản vốn vay được ký kết hôm nay được sử dụng trong việc quản lý hỗ trợ quản lý và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Trung khẳng định Chính phủ Việt Nam cũng như các địa phương, đơn vị sử dụng nguồn vốn ODA cam kết sử dụng khoản vay đúng mục đích và có hiệu quả cao nhất, đáp ứng yêu cầu thực tế và góp phần làm sâu sắc thêm mối quan hệ Đối tác chiến lược kinh tế Việt Nam-Nhật Bản.

Khoản ODA vốn vay nói trên được cung cấp để hỗ trợ ngân sách cho Chính phủ Việt Nam triển khai Chương trình hỗ trợ quản lý kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh (EMCC), với mục tiêu tăng cường cải cách một số lĩnh vực ưu tiên trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016-2020 đã được Quốc hội thông qua vào tháng Tư vừa qua.

Hoạt động này hỗ trợ thực hiện cải cách chính sách xuyen suốt 3 trụ cột nhằm giúp Chính phủ duy trì ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường quản trị ngành tài chính và quản lý tài khóa trong đó bao gồm cả các chính sách giải quyết nợ xấu, cải cách ngân hàng, quản lý nợ và quản lý kho bạc; tăng cường minh bạch, tiết kiệm và trách nhiệm trong khu vực công.

Đồng thời, hai bên tăng cường bộ máy hành chính công, quản lý doanh nghiệp Nhà nước và tăng cường quản lý đầu tư công hướng tới nâng cao minh bạch và làm cho môi trường quản lý Nhà nước lành mạnh hơn và cải thiện môi trường kinh doanh; giảm gánh nặng hành chính, cải thiện, chính sách thuế và mua sắm công và cải thiện thủ tục hành chính.

Tại lễ ký, Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Hiroshi Fukada cho biết đây là Chương trình hỗ trợ quản lý kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh (EMCC) chu kỳ 3 mà Nhật Bản hỗ trợ cho Việt Nam. Khoản hỗ trợ lần này khác các khoản hỗ trợ khác là hỗ trợ vốn vay cải thiện hạ tầng của Việt Nam thì lần này là hỗ trợ tài chính cho Chính phủ Việt Nam.

Ông Fukada cũng bày tỏ hy vọng Chính phủ Việt Nam sẽ sử dụng một cách minh bạch và hiệu quả khoản vay, góp phần giúp Việt Nam trong cải cách hành chính và cải cách thể chế về tài chính.

Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam nhấn mạnh rằng Việt Nam là đất nước có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế lớn mạnh hơn nữa. Để tiềm năng đó trở thành sự phát triển kinh tế, ông khuyến nghị Việt Nam cần chú trọng đào tạo nguồn nhân lực, tích lũy kinh nghiệm; đồng thời trong điều kiện ngân sách có hạn, Chính phủ phải sử dụng hợp lý với các nội dung cần thiết trong việc vận hành và quản lý các chính sách của mình.

Với 11 tỷ yen ODA (khoảng 106 triệu USD, tương đương 2.373 tỷ đồng) vốn vay thông qua Công hàm trao đổi được chính thức ký kết ngày hôm nay, cam kết ODA (bao gồm viện trợ không hoàn lại và ODA vốn vay) của Chính phủ Nhật Bản dành cho Chính phủ Việt Nam từ năm 1992 đến nay đạt khoảng 2.800 tỷ yen.

Công hàm trao đổi được ký kết ngày hôm nay quy định các điều kiện khung cho việc cung cấp và sử dụng khoản ODA vốn vay dành cho chương trình nêu trên. Trên cơ sở các điều kiện khung này, lãnh đạo Bộ Tài chính Việt Nam và đại diện Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) cũng sẽ ký hiệp định vay cụ thể cho chương trình./.

Theo Thúy Hiền

Vietnam+

Habeco và Sabeco sắp lên sàn, nhưng yêu cầu sau của Bộ Tài chính có thể khiến hai ông lớn ngành bia… mất giá

Đề nghị truy thu thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hai ông lớn ngành bia có thể tác động đến tâm lý nhà đầu tư khi Sabeco và Habeco chuẩn bị được đưa lên sàn và bán vốn nhà nước.

Lo ngại trên được nhiều chuyên gia và đại diện doanh nghiệp đưa ra tại cuộc họp mới đây của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Hiệp hội Bia rượu nước giải khát (VBA) về thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) cho hai Tổng công ty Bia rượu nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) và Tổng công ty Bia rượu nước giải khát Hà Nội (Habeco).

Mới đây Kiểm toán Nhà nước (KTNN) đã đề nghị truy thu của Habeco trên 920 tỷ đồng thuế tiêu thụ đặc biệt. Cũng giống như câu chuyện của Sabeco cách đây một năm trước, KTNN đã đưa ra cách tính thuế TTĐB khác so với cơ quan thuế hướng dẫn, đã gây ra nhiều bức xúc cho DN.

Cả Bộ Tài chính và KTNN đều cho rằng, việc áp dụng cách tính thuế theo đề nghị của KTNN là nhằm bịt lỗ hổng về thuế, ngăn chặn tình trạng các DN lách luật, trốn thuế. Bởi trên thực tế, cả hai DN bia là Habeco và Sabeco đều xây dựng hệ thống các công ty con phân phối. Việc lập ra nhiều tầng nấc trung gian được xem là có dấu hiệu để chuyển giá, giúp giảm số tiền phải nộp thuế TTĐB.

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Việt, Chủ tịch VBA, việc hai DN bia xây dựng hệ thống phân phối là làm theo chỉ đạo của Bộ chủ quản là cần xây dựng hệ thống thương mại để tăng phân phối. Việc thu thuế có thể mang lại nguồn thu cho ngân sách, nhưng đây là những DNNN đang chuẩn bị được đưa lên sàn, bán vốn, nên việc truy thu thuế sẽ rất ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư.

“Nhiều nhà đầu tư hỏi thì tôi nói không biết thông tin. Nước ngoài họ rất thông minh, họ mua rất sát giá, dù rất quan tâm đến doanh nghiệp, nhưng các chính sách cần tạo điều kiện cho doanh nghiệp. Cũng là để bảo vệ bình đẳng cho các cổ đông là nhà nước và tránh tác động của chính sách khi tới đây DN lên sàn thì giá trị của DN có thể bị ảnh hưởng” – ông Việt lo ngại.

Cũng bày tỏ lo ngại chính sách thuế này có thể tác động đến nhiều DN, ông Nguyễn Sỹ Cương, Ủy viên thường trực Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội cho rằng không thể nói chuyện các DN lách luật ở đây. Bởi trong giai đoạn hoàn thiện pháp luật, việc có lỗ hổng là bình thường và khi đó, DN lách luật thì không thể cho rằng có vi phạm pháp luật.

Trong khi đó, trước đây DN đã được cơ quan thuế hướng dẫn, nhưng sau đó Bộ Tài chính lại yêu cầu phải theo kết luận kiểm toán, ông Cương đặt ra câu hỏi: “Vậy trước đây cơ quan thuế thuế kết luận sai?” và cho rằng nếu hướng dẫn sai thì cơ quan chức năng phải chịu hậu quả và có trách nhiệm.

Còn đối với KTNN, cũng đã thanh kiểm tra trong thời gian dài, nhưng tại sao lại không truy thu mà đến nay mới truy thu? Theo ông Cương, không thể cơ quan Nhà nước muốn nói thế nào cũng được và đó là thể hiện sự cửa quyền.

Theo đó, ông Cương cho rằng hiện Bộ Công Thương đã có văn bản kiến nghị Thủ tướng, nên trước khi chờ Thủ tướng có kết luận về vụ việc này thì doanh nghiệp không phải nộp thuế. Cũng bởi, vấn đề này còn liên quan đến quyền lợi của cổ đông.

“Tôi không bảo vệ cái sai, nếu Sabeco và Habeco và Vinataba mà sai thì tôi đề nghị xử nghiêm, nhưng theo nhìn nhận của tôi về vụ việc này thì doanh nghiệp không sai. Tôi nghĩ chủ trương vừa rồi đưa Habeco và Sabeco lên sàn thì đây là bài toán nan giải vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc lên sàn của 2 doanh nghiệp này” – ông Cương lo ngại.

C. An

Theo InfoNet

Thủ tướng: Nguy cơ Việt Nam trở thành bãi thải công nghệ lạc hậu đang hiện hữu!

Đây là nhận định được đề cập trong Chỉ thị 25/CT-TTg vừa được Thủ tướng ban hành nhằm giải quyết những vấn đề cấp bách về môi trường.

Bảo vệ môi trường đang là một vấn đề “nóng” của Chính Phủ. Nhiều vấn đề, sự cố tích tụ từ lâu chưa được giải quyết đã gây áp lực lớn lên môi trường, mà theo Thủ tướng là “nguy cơ nước ta trở thành bãi thải công nghệ lạc hậu, các loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường đang hiện hữu”.

Nguyên nhân của tình trạng trên là do nhận thức, ý thức trách nhiệm của các ngành, các cấp, doanh nghiệp và người dân còn hạn chế.

Theo đó, nhiều địa phương còn chạy theo lợi ích kinh tế trước mắt, xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường. Vai trò của các tổ chức, xã hội, người dân vẫn chưa phát huy hiệu quả. Ngoài ra, hệ thống pháp luật, quy chuẩn còn nhiều bất cập, thiếu khả thi. Nhiều quy định, tiêu chí, công cụ sàng lọc, lựa chọn, kiểm soát…yếu hoặc thiếu.

Do vậy, nhiệm vụ bảo vệ môi trường hết sức khó khăn, đấy là chưa kể đến biến đổi khí hậu diễn biến nhanh, phức tạp, đặt ra nhiều thách thức.

Trước tình hình đó, trong chỉ thị mới, Thủ tướng yêu cầu bảo vệ môi trường là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn thể xã hội.

Thủ tướng yêu cầu các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quán triệt, thực hiện nghiêm Nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường.

Cụ thể, thu hút đầu tư phải bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Không cho phép đầu tư vào các loại hình sản xuất, sử dụng công nghệ sản xuất lạc hậu có nguy cơ cao gây ô nhiễm. Các địa phương khẩn trương ban hành và tổ chức thực hiện nghị quyết chuyên đề, chương trình, kế hoạch hành động về bảo vệ môi trường.

Các bộ, ngành, địa phương phải phối hợp đồng bộ, chặt chẽ trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường từ khâu xét duyệt, thẩm định đến triển khai thực hiện và vận hành dự án. Chủ đầu tư, cơ quan quyết định, phê duyệt đầu tư, thẩm định công nghệ sản xuất, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường phải chịu trách nhiệm về vấn đề môi trường của dự án. Chủ tịch UBND các cấp chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề môi trường trên địa bàn. Bộ Tài nguyên và Môi trường kiểm tra, thanh tra, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường của các Bộ, ngành, địa phương.

Thủ tướng giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành có liên quan tổng hợp, đề xuất sửa đổi các quy định về bảo vệ môi trường trong các luật về môi trường, tài nguyên, thuế, ngân sách, đầu tư, xây dựng, khoa học và công nghệ, năng lượng… bảo đảm thống nhất, đồng bộ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, hoàn thành trong năm 2017.

Đồng thời rà soát, trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Bảo vệ môi trường, khắc phục những bất cập hiện nay, nhất là các quy định về các công cụ, biện pháp quản lý nhà nước, biện pháp kỹ thuật kiểm soát, giám sát hoạt động xả thải của doanh nghiệp. Rà soát, điều chỉnh các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường phù hợp với điều kiện trong nước và yêu cầu hội nhập quốc tế, kết hợp thải lượng chất ô nhiễm và sức chịu tải của môi trường, hoàn thành trong năm 2017.

Thủ tướng cũng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu, quy định cụ thể tỷ lệ vốn đầu tư xử lý ô nhiễm môi trường đối với các loại hình dự án đầu tư. Bộ Xây dựng ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành suất đầu tư, giá dịch vụ trong xử lý chất thải rắn sinh hoạt, hoàn thành trong năm 2017.

Ngoài ra, Thủ tướng cũng yêu cầu UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương ban hành các quy chuẩn kỹ thuật môi trường của địa phương, tập trung vào các lĩnh vực có nguy cơ gây ô nhiễm cao và các đô thị đông dân cư, khu vực có hệ sinh thái nhạy cảm cần được bảo vệ.

Đức Minh

Theo Trí thức trẻ

Bộ trưởng Công Thương: 'Chúng ta đang làm méo thị trường'

Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, quy định yêu cầu doanh nghiệp kinh doanh khí phải có 100.000 bình và bồn chứa 300 mét khối là “làm méo thị trường”.

Đây là những điều kiện kinh doanh tại Nghị định 19 năm 2016, do Bộ Công Thương xây dựng trình Chính phủ ban hành, có hiệu lực từ ngày 15/5/2016. Đây là một trong những vấn đề thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Công Thương bị các doanh nghiệp phàn nàn nhiều nhất trong thời gian qua.

Tuy nhiên, những vướng mắc này sẽ được sửa đổi trong thời gian tới, theo phản ánh của Thời báo Kinh tế Sài Gòn.

Theo báo này, tại cuộc họp mới đây của Bộ Công Thương, Vụ trưởng Vụ Pháp chế của Bộ Công Thương, ông Nguyễn Sinh Nhật Tân, cho biết các doanh nghiệp phản ánh năm điều kiện kinh doanh làm khó cho họ, trong đó đáng chú ý nhất là doanh nghiệp kinh doanh khí “phải sở hữu” 100.000 chai LPG (bình gas) loại 12 ki lô gam và “phải sở hữu” bồn chứa LPG (trạm nạp gas) tối thiểu là 300 mét khối. Các doanh nghiệp kiến nghị, cần giảm số lượng chai, cũng như bỏ quy định “phải sở hữu” với bồn chứa.

Trong dự thảo văn bản mới về vấn đề này, ông Tân đề nghị giảm số bình gas xuống còn 30.000-50.000, và bồn chứa còn 50 mét khối. Bên cạnh đó, cần điều chỉnh quy định doanh nghiệp “phải sở hữu” thành “có thể sở hữu”, hoặc “đi thuê” trạm nạp gas.

Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước của Bộ Công Thương, ông Võ Văn Quyền, phản đối phương án này. Khẳng định các doanh nghiệp kinh doanh gas quy mô lớn, và hiệp hội gas đề nghị giữ nguyên các điều kiện kinh doanh này, ông Quyền nói: “Ta theo kinh tế thị trường thì Nhà nước phải xây dựng thể chế để tạo lập thị trường. Vì khí là mặt hàng nhạy cảm nên chúng ta cần có chủ thể (doanh nghiệp) vững chắc trên thị trường”. Ông Quyền cho quy định như trong Nghị định 19 nhằm cung ứng cho người dân “ít nhất một tháng”.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh hỏi luôn: “Vậy tỉnh Hưng Yên thì cần bao nhiêu bình? Anh khảo sát chưa?”, ông Quyền đã không trả lời.

Thứ trưởng Trần Quốc Khánh đặt câu hỏi: “Tại sao lại ra quy định 100.000 bình và 300 mét khối, mà không phải là 110.000 bình và 350 mét khối? Lý do nào buộc doanh nghiệp phải sở hữu kho chứa?”. Ông Khánh bình luận, quy định như vậy thì chết doanh nghiệp.

Ông Khánh nói, ông nghĩ ông Quyền muốn xây dựng thị trường gas có trật tự. “Nhưng tôi không đồng ý. Cần tôn trọng nguyên tắc thị trường, cần có quy định an toàn cho trạm chiết gas để doanh nghiệp có thể sở hữu, hoặc đi thuê... Quy định 100.000 bình và bồn chứa 300 mét khối thì chúng ta không có cách nào lý giải đâu. Tốt nhất là để thị trường quyết định”.

“Chúng ta đang làm méo thị trường”

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nói: “Chúng ta theo kinh tế thị trường thì Nhà nước không thể lo mọi chuyện. Anh Quyền nói quy định 100.000 bình và 300 mét khối để đảm bảo nhu cầu của người dân. Vậy có lẽ cũng cần phải quy định ông hàng gạo cần có kho bao nhiêu tấn, không thì tỉnh đó chết đói hay sao?”. Rồi ông khẳng định: “Chính chúng ta đang làm méo thị trường”.

Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhận xét ban soạn thảo chưa thuyết phục được sự cần thiết của các điều kiện kinh doanh trong Nghị định 19. Theo ông, “các điều kiện kinh doanh này chưa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia thị trường, không phản ánh đúng tinh thần của Luật Doanh nghiệp, và của Chính phủ”.

Ông kết luận, không có cơ sở để quy định 100.000 bình gas và bồn chứa 300 mét khối; và không quy định “phải sở hữu” trạm nạp trong nghị định để doanh nghiệp có thể đi thuê ngoài. Ông cho biết Bộ Công Thương sẽ sớm gửi báo cáo lên Chính phủ đề nghị sửa đổi Nghị định 19.

Theo nhiều doanh nghiệp và các chuyên gia, quy định về số lượng bình gas tối thiểu hay dung tích tối thiểu của kho chứa… khiến chi phí gia nhập thị trường trở nên rất lớn, tạo vị trí độc quyền cho các doanh nghiệp lâu năm, trong khi hạn chế các nhà đầu tư mới gia nhập thị trường.

Thực tế cũng cho thấy các quy định cứng nhắc về sản lượng tối thiểu là không phù hợp. Nhiều doanh nghiệp ở Hà Giang cho hay cả tỉnh mỗi tháng chỉ tiêu thụ khoảng 300 tấn gas, nếu doanh nghiệp phải đầu tư các bồn có dung tích 400 mét khối (chứa 180 tấn gas) như yêu cầu của dự thảo là không cần thiết, tồn trữ lớn khiến việc đầu tư trở thành gánh nặng về tài chính. Số lượng 100.000 vỏ bình cũng là quá nhiều khi doanh nghiệp chỉ cần 60.000 vỏ là đủ đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Doanh nghiệp buộc phải mua thêm 40.000 bình rồi để trong kho là lãng phí, không đúng với quy luật cung cầu của thị trường.

Theo Thanh Hằng

Chinhphu.vn

Chính phủ liêm chính: ‘Người dân đang nhìn Vinamilk, Sabeco’

Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, trông đợi vào một Chính phủ liêm chính, kiến tạo, hành động, người dân đang nhìn vào quá trình bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp lớn như Vinamilk, Sabeco, Habeco.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã kết luận về chủ trương tiếp tục bán vốn nhà nước tại một số doanh nghiệp lớn như Vinamilk, Sabeco, Habeco, với tinh thần phải công khai minh bạch, kiên quyết chống tiêu cực, lợi ích nhóm, với những giải pháp cụ thể như phải niêm yết trên sàn chứng khoán trước khi bán…

Trao đổi với Báo điện tử Chính phủ, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan khẳng định ngay đây là những chỉ đạo rất trúng, rất đúng và rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Chuyên gia kinh tế này nhận định: Chủ trương cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước đã có từ lâu, nhưng tiến độ thực hiện chậm. Về mặt số lượng doanh nghiệp, cổ phần hóa gần như đạt chỉ tiêu nhưng phần vốn nhà nước nắm giữ vẫn còn quá lớn. Mặt khác, việc cổ phần hóa, bán vốn trong nhiều trường hợp vẫn tiến hành theo quy trình khép kín, kém minh bạch, nên thực chất không đạt kết quả.

Do đó, cần phải thúc đẩy quá trình này mạnh mẽ hơn và minh bạch hơn. Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là một trong ba lĩnh vực trọng tâm của tái cơ cấu nền kinh tế, nếu không thực hiện được tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước thì việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và tái cơ cấu đầu tư công cũng khó khăn, bởi doanh nghiệp nhà nước chính là đối tượng có thể tiếp cận tín dụng nhiều nhất, tiếp cận nhiều dự án đầu tư công nhất, và “đóng góp” nhiều nhất vào nợ xấu và sở hữu chéo trong các ngân hàng cũng như sự dàn trải và hiệu quả thấp trong đầu tư công.

Chỉ đạo của Thủ tướng không chỉ tác động tới khu vực doanh nghiệp nhà nước mà còn tác động mạnh mẽ tới cả nền kinh tế, cần nhận được sự ủng hộ, vào cuộc quyết liệt và đồng bộ của cả hệ thống, đặc biệt các cơ quan bên Đảng và Quốc hội.

Tất cả vì mục tiêu công khai, minh bạch

Mục tiêu đã rõ ràng, đó là phải công khai, minh bạch. Liệu những giải pháp mà Thủ tướng đã kết luận có đủ để bảo đảm quá trình này diễn ra công khai, minh bạch, chống “lợi ích nhóm”?

Tôi nghĩ việc bán vốn nhà nước không khó, nhưng khó hơn là làm sao bán được một cách công khai, minh bạch, đảm bảo lợi ích chung cao nhất, và những chỉ đạo của Thủ tướng đều hướng tới mục tiêu đó. Việc Thủ tướng yêu cầu các doanh nghiệp phải niêm yết trên sàn chứng khoán trước khi bán vốn nhà nước là giải pháp trúng. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa cố tình lờ niêm yết, bởi niêm yết là kênh buộc họ phải minh bạch hóa cao, với những tiêu chí và trách nhiệm rõ ràng, thêm sức ép để họ phải minh bạch, giúp các nhà đầu tư và xã hội dễ giám sát hơn.

Nhiều chuyên gia vẫn đề nghị nhà nước cần buộc các doanh nghiệp nhà nước ít nhất phải minh bạch như các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán. Nhiều doanh nghiệp vẫn nói họ minh bạch, nhưng thông tin do họ công bố rất mù mờ, tiến độ cung cấp thông tin tùy tiện, không đủ để nhà nước và xã hội giám sát. Họ có động lực để trì hoãn việc niêm yết, vì những lợi ích riêng.

Mặt khác, việc niêm yết cũng sẽ giúp định giá cổ phiếu chính xác hơn, tránh thất thoát tài sản nhà nước khi bán vốn.

Việc mở rộng đối tượng được tham gia mua cổ phần cũng rất tốt. Lâu nay nhiều trường hợp cổ phần hóa mang tính chất khép kín, thậm chí có tình trạng “hôn nhân cùng huyết thống” khi doanh nghiệp nhà nước này mua của doanh nghiệp nhà nước kia, biểu hiện lợi ích nhóm rất rõ. Muốn phá vỡ lợi ích nhóm thì phải mở rộng đấu thầu cho các nhà đầu tư cạnh tranh lành mạnh. Đấu giá công khai là biện pháp tốt nhất để tránh tình trạng “người nhà” thâu tóm cổ phiếu với giá rẻ.

Việc yêu cầu tính riêng giá trị quyền sử dụng đất cũng gửi đi thông điệp về minh bạch cao hơn, bởi trước đây đã có tình trạng định giá đất không chính xác trong cổ phần hóa, có những mảnh đất vàng nhưng lại được định giá thấp hoặc thậm chí không tính đến đất khi định giá doanh nghiệp, nhưng khi bán lại chuyển nhượng luôn cả quyền sử dụng đất. Nếu định giá đất đúng, có thể đem lại nguồn thu rất lớn cho nhà nước. Mặt khác, qua định giá riêng về đất, nhà nước cũng có thể chủ động sắp xếp lại cách phân bổ, sử dụng phần đất đó sao cho hiệu quả nhất.

Nếu thực hiện nghiêm túc những yêu cầu trên, tôi tin chúng ta có thể loại bỏ “lợi ích nhóm” trong quá trình bán vốn nhà nước.

Đang lãi lớn, có nên bán?

Có ý kiến cho rằng các doanh nghiệp nhà nước như Vinamilk, Sabeco đang làm ăn hiệu quả, nộp ngân sách rất lớn, thì chưa nên bán. Bà nghĩ sao về quan điểm này?

Tôi không tán thành quan điểm này. Nếu để Vinamilk ra thị trường hoàn toàn, doanh nghiệp đó chắc chắn sẽ hoạt động hiệu quả hơn, thì tổng thể đất nước này sẽ có lợi hơn, người tiêu dùng có lợi hơn, nhà nước cũng thu thuế nhiều hơn. Và khi bán hết vốn nhà nước, Nhà nước cũng sẽ rảnh tay hơn để làm những việc khác. Ví dụ vừa qua khi bà Mai Kiều Liên đến tuổi về hưu theo quy định với cán bộ, công chức, nhà nước muốn bà nghỉ, nhưng các cổ đông Vinamilk vẫn quyết định giữ lại bà làm Tổng Giám đốc. Nhà nước không còn cần can thiệp và cũng chẳng phải ôm trách nhiệm về những việc như vậy nữa. Doanh nghiệp sẽ tự chịu trách nhiệm, và trong vấn đề này, họ “khôn” hơn các cơ quan nhà nước nhiều!

Với Sabeco, DN này đang làm trong một lĩnh vực có thể gọi là siêu lợi nhuận. Bán đi, họ có hệ thống quản trị đàng hoàng, minh bạch hơn, có động lực làm lãi nhiều hơn, nhà nước sẽ thu thuế nhiều hơn từ họ. Đồng thời lại tránh được những vụ lùm xùm gây tai tiếng như chuyện nhân sự ở DN đó thời gian qua.

Tôi cũng biết có những doanh nghiệp chỉ còn chưa đến 20% cổ phần của nhà nước, nhưng họ khổ sở với số phần trăm đó, vì nhiều khi người đại diện vốn nhà nước lại cản trở việc đổi mới công nghệ, do sợ đầu tư bị thua lỗ, chỉ muốn an toàn. Nhưng trên thương trường, không chấp nhận rủi ro, không dám đổi mới thì không thể thành công. Vấn đề là, công chức nhà nước không thể giỏi chuyện kinh doanh bằng DN, nên Nhà nước không nên thành người gây trở ngại cho sự phát triển của DN theo kiểu như vậy.

Chính phủ không bán bia, bán sữa

Bà đánh giá như thế nào về chỉ đạo trên của Thủ tướng, trong bối cảnh Thủ tướng đã khẳng định quyết tâm xây dựng một Chính phủ liêm chính, kiến tạo phát triển, hành động, nói đi đôi với làm?

Thủ tướng đã tuyên bố xây dựng Chính phủ liêm chính, trong sạch, nói không với tiêu cực, tham nhũng. Tôi cho rằng việc bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp lớn chính là phép thử quan trọng, bởi các doanh nghiệp nhà nước lớn chính là nơi tập trung tài sản nhà nước rất nhiều, nguy cơ tham nhũng rất cao.

Ngoài mục tiêu thu số tiền lớn về cho ngân sách, thì điều vô cùng quan trọng khi bán vốn là thu hẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước, giảm mạnh số doanh nghiệp nhà nước, như Thủ tướng nói là Chính phủ không đi bán bia bán sữa. Có thế Chính phủ mới giảm được vai trò nhà đầu tư, nhà kinh doanh, tránh tình trạng nhà nước đi cạnh tranh với doanh nghiệp tư nhân, để tập trung làm chức năng kiến tạo sự phát triển của mình.

Tôi nghĩ còn rất nhiều lĩnh vực thuần túy hoặc chủ yếu là kinh doanh thương mại khác mà Nhà nước không nên tham gia nữa, như dệt may, giày dép, thủy sản, nông sản, gạo, sắt thép, du lịch… Nhà nước chỉ nên tập trung tham gia trong một số lĩnh vực như liên quan đến quốc phòng-an ninh, hoặc vài ngành thiết yếu cho cả nền kinh tế như năng lượng, viễn thông, vận tải hàng không, đường sắt, mặc dù ngay chính trong các ngành này nhà nước cũng chỉ cần nắm đa số 51% chứ không cần nắm 100%. Nhiều dịch vụ công ích cũng vậy, nên để xã hội làm là chính. Báo cáo Việt Nam 2035 có khuyến nghị rằng đến năm 2035, số lượng doanh nghiệp nhà nước chỉ nên còn dưới 100.

Trong quá trình đó, minh bạch và trách nhiệm giải trình sẽ là chìa khóa. Tôi rất kỳ vọng Thủ tướng sẽ có thêm những quyết định mạnh mẽ, tạo niềm tin cho người dân và xã hội. Việc thực hiện bán vốn nhà nước một cách dứt khoát và bảo đảm công khai, minh bạch, hiệu quả, sẽ gửi đi thông điệp mạnh mẽ về một Chính phủ liêm chính, trong sạch, một Chính phủ kiến tạo và một Chính phủ hành động, nói đi đôi với làm.

Theo Hà Chính (thực hiện)

Chinhphu.vn

Sẽ công khai báo cáo tài chính nhà nước trên mạng internet

Bộ Tài chính sẽ công khai tình hình tài sản nhà nước; nợ công; thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động tài chính nhà nước… trên cổng điện tử của Bộ này.

4 danh mục phải báo cáo

Bộ Tài chính vừa công bố dự thảo Nghị định về báo cáo tài chính nhà nước. Theo đó, Kho bạc Nhà nước và Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có nhiệm vụ lập báo cáo tài chính nhà nước.

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức có nhiệm vụ cung cấp thông tin để lập báo cáo tài chính nhà nước, bao gồm: Cơ quan quản lý, thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước các cấp; Cơ quan quản lý tài sản, nguồn vốn của Nhà nước các cấp; Cơ quan nhà nước, tổ chức có sử dụng ngân sách Nhà nước; Cơ quan, tổ chức quản lý quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách; Đơn vị sự nghiệp công lập; Các đơn vị, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.

Báo cáo tài chính nhà nước cung cấp thông tin kinh tế, tài chính làm căn cứ để phân tích khả năng tài chính nhà nước trên phạm vi toàn quốc và từng địa phương, đánh giá hiệu quả chi tiêu công và hiệu quả thực hiện các cơ chế, chính sách về kinh tế, tài chính, ngân sách.

Đồng thời, Báo cáo này phải đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện về tình hình tài sản nhà nước; nợ công và các khoản phải trả khác của Nhà nước; nguồn vốn của Nhà nước tại thời điểm kết thúc kỳ báo cáo; tình hình thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động tài chính nhà nước; tình hình lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính nhà nước trong kỳ báo cáo.

Dự thảo Nghị định này cũng quy định danh mục báo cáo tài chính nhà nước toàn quốc phản ánh toàn bộ thông tin tài chính nhà nước có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc do Nhà nước quản lý trên phạm vi toàn quốc, bao gồm: Báo cáo tình hình tài chính nhà nước; Báo cáo kết quả hoạt động tài chính nhà nước; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh báo cáo tài chính nhà nước.

Còn báo cáo tài chính nhà nước tỉnh phản ánh toàn bộ thông tin tài chính nhà nước có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc do Nhà nước quản lý trên phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là tỉnh) cũng bao gồm các danh mục nội dung báo cáo như báo cáo cấp toàn quốc.

Công khai báo cáo trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, Bộ Tài chính

Theo dự thảo Nghị định, nội dung công khai gồm: UBND tỉnh công khai các thông tin chủ yếu trong báo cáo tài chính nhà nước tỉnh, bao gồm: tình hình tài sản nhà nước; nợ chính quyền địa phương, các khoản phải trả khác của Nhà nước; nguồn vốn của Nhà nước; tình hình thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động tài chính nhà nước; tình hình lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính nhà nước.

Bộ Tài chính công khai các thông tin chủ yếu trong báo cáo tài chính nhà nước toàn quốc, bao gồm: tình hình tài sản nhà nước; nợ công và các khoản phải trả khác của Nhà nước; nguồn vốn của Nhà nước; tình hình thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động tài chính nhà nước; tình hình lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính nhà nước.

Hình thức công khai là UBND tỉnh đăng tải các thông tin chủ yếu trong báo cáo tài chính nhà nước tỉnh và thuyết minh cụ thể một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng trên cổng thông tin điện tử của tỉnh. Còn Bộ Tài chính phát hành ấn phẩm các thông tin chủ yếu trong báo cáo tài chính nhà nước và thuyết minh cụ thể một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng trên phạm vi toàn quốc, đăng tải các thông tin chủ yếu trong báo cáo tài chính nhà nước và thuyết minh cụ thể một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội quan trọng trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tài chính./.

Theo Xuân Thân

VOV

Thu hồi hàng trăm ha đất dự án thép tỷ USD bỏ hoang

Sau hơn 9 năm bỏ hoang, chậm tiến độ kéo dài, cơ quan chức năng Quảng Ngãi quyết định thu hồi lại hàng trăm ha đất của siêu dự án thép từng được cho là có tổng vốn 4,5 tỷ USD.

Trao đổi với Zing.vn, ông Lê Văn Dũng, Phó trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Dung Quất cho biết, cơ quan chức năng Quảng Ngãi đã thống nhất thu hồi hơn 337 ha đất từ dự án thép chậm tiến độ kéo dài do Công ty TNHH Guang Lian Stell làm chủ đầu tư.

Sau 10 năm được cấp phép, nhiều lần điều chỉnh giấy phép đầu tư, dự án thép Dung Quất chậm kéo dài gây lãng phí hàng trăm ha đất khiến người dân bức xúc.

"Tỉnh quyết định thu hồi đất của dự án thép này do doanh nghiệp vi phạm pháp luật về đất đai. Qũy đất thu hồi dự kiến sẽ bàn giao cho Tập đoàn Hòa Phát thời gian tới để triển khai dự án thép khác quy mô lớn tại Khu kinh tế Dung Quất", ông Dũng nói.

Theo vị này, Tập đoàn Hòa Phát từng làm việc nhiều lần với tỉnh Quảng Ngãi có "thiện chí" đầu tư khu liên hợp gang thép Hòa Phát tại Khu kinh tế Dung Quất với công suất 4 triệu tấn mỗi năm. Chủ đầu tư cần khoảng 300 đến 400ha đất đầu tư dự án với tổng vốn 60.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho khoảng 8.000 lao động.

Ba tháng trước, tỉnh Quảng Ngãi từng công bố kết luận thanh tra việc quản lý, sử dụng đất và tiến độ thực hiện dự án nhà máy thép Quảng Liên Dung Quất sau hơn 9 năm khởi công.

Theo đó, chiếu theo quy định của Luật Đầu tư, căn cứ tiến độ trong Giấy chứng nhận đầu tư điều chỉnh lần 3 (giai đoạn 1 hoàn thành tháng 10/2010, giai đoạn 2 hoàn thành tháng 10/2012), đến đầu 2016 thì thời gian chậm tiến độ của giai đoạn đầu là 64 tháng, giai đoạn 2 chậm 40 tháng. Đến tháng 8, nhà đầu tư vẫn không có khả năng thực hiện dự án theo tiến độ đăng ký với cơ quan chức năng thuộc trường hợp giãn tiến độ thì Nhà nước đủ cơ sở pháp lý đơn phương chấm dứt dự án.

Dự án thép Quảng Liên Dung Quất được cấp phép năm 2006, ban đầu do Tập đoàn Tycoons (Đài Loan) đầu tư với số vốn đăng ký khoảng hơn 1 tỷ USD. Sau đó, Tập đoàn E - United hợp tác với Tycoons cùng thực hiện và nâng vốn dự án lên 3 tỷ USD.

Dự án khởi công tháng 10/2007, đến năm 2008, Công ty TNHH Guang Lian (Quảng Liên) Steel Việt Nam hợp tác với hai Tập đoàn này điều chỉnh vốn dự án lên trên 3,3 tỷ USD.

Tháng 5/2010, nhà đầu tư xin điều chỉnh giấy phép lần 5, điều chỉnh từ 3 tỷ USD lên 4,5 tỷ USD. Tháng 3/2012, Tập đoàn thép JFE (Nhật Bản) quyết định liên doanh với Công ty TNHH Guang Lian xây dựng nhà máy thép. Do không nhận được ưu đãi, nhận thấy dự án không khả thi, cuối năm 2014 JFE tuyên bố rút lui.

Trong lúc tỉnh Quảng Ngãi thanh tra dự án, tháng 3/2016, chủ đầu tư tiếp tục đề xuất khởi động dự án với công suất 5 triệu tấn mỗi năm, tổng vốn 2,2 tỷ USD, hoàn thành trong 42 tháng. Tuy nhiên trong quá trình thanh tra, tỉnh xét thấy chủ đầu tư dự án đã “vi phạm Luật Đất đai 2013” nên đề nghị xử lý chấm dứt hoạt động.

Theo Minh Hoàng

Zing

Tổng công ty cảng hàng không báo lỗ hơn trăm tỉ vì tỷ giá

Chênh lệch tỷ giá được cho là yếu tố chính khiến Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) lần đầu công bố thua lỗ kể từ khi thành lập. Theo báo cáo tài chính quý II, ACV có doanh thu thuần 3.263 tỉ đồng và chịu lỗ 123,7 tỉ đồng.

Trao đổi với chúng tôi, ông Lê Mạnh Hùng Tổng giám đốc ACV cho rằng tổng công ty này bị lỗi vì tỷ giá đồng yen và chênh lệch tỷ giá tính toán cũng chưa đúng. Ông Hùng khẳng định chưa công bố lỗ một cách chính thức mà mới đang

Tổng hợp kế hoạch sản xuất kinh doanh trong quý II. Trong khi đó, theo một số nguồn tin, ACV đã công bố kết quả kinh doanh với giá vốn hàng bán lên tới 1.900 tỉ đồng và chi phí tài chính lên tới 1.400 tỉ đồng. Những con số này được cho là yếu tố chính tác động đến kết quả kinh doanh của ACV.

Trong báo cáo tài chính quý II, ACV cho biết, lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản mục tiền cuối kỳ là 1.379 tỉ đồng, chiếm 98% chi phí tài chính. Từ năm 2015, báo cáo tài chính của ACV đã cho thấy lợi nhuận của doanh nghiệp này giảm đáng kể do thiệt hại từ chênh lệch tỷ giá và chi phí tài chính tăng lên. Tính đến ngày 30.6, ACV có khoản vay nợ 70,6 tỷ yên. Những khoản vay này được sử dụng đầu tư cho các dự án xây dựng nhà ga quốc tế Nội Bài T2, nhà ga hành khách quốc tế Tân Sơn Nhất..

Đây là lần đầu tiên ACV báo lỗ và mức lãi sau thuế hàng năm của Tổng công ty từ năm 2012 đến 2015 thường dao động từ 1.500 tỉ đồng đến xấp xỉ 2.500 tỉ đồng.

ACV đã hoạt động theo mô hình công ty cổ phần kể từ tháng 4.2016 sau khi bán cổ phần ra công chúng lần đầu hồi cuối năm ngoái. Hiện đơn vị này độc quyền kinh doanh, quản lý và vận hành 22 cảng hàng không quốc tế và quốc nội trong cả nước, với 65% doanh thu đến từ bán hàng miễn thuế tại các sân bay. Theo kế hoạch kinh doanh 2016, công ty đặt mục tiêu doanh thu 12.000 tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế 2.056 tỉ, cổ tức chia cho cổ đông là 5%.

Việc công bố lỗ này có thể sẽ là yếu tố để ACV đẩy mạnh quá trình xin tăng các loại phí phục vụ tại sân bay. Trước đó, ACV đã nhiều lần gửi kiến nghị tăng giá phục vụ hành khách trong nước, phí đậu sân bay theo giờ...

Theo Khánh Hòa

Lao động

Thanh tra 39.150 doanh nghiệp, tăng thu ngân sách 7.100 tỷ đồng

Đây là ghi nhận của Bộ Tài chính trong Báo cáo về tình hình thực hiện chương trình công tác tháng 8/2016.

Theo đó, tính đến tháng 8/2016, cơ quan Thuế đã thực hiện thanh kiểm tra 39.150 doanh nghiệp, qua đó xử lý tăng thu 7.100 nghìn tỷ đồng. Cơ quan này cũng đã đôn đốc, cưỡng chế thu được 26.250 nghìn tỷ đồng tiền nợ thuế năm 2015 chuyển sang.

Phía các cơ quan Hải quan cũng đã thực hiện trên 4.600 nghìn cuộc thanh tra, kiểm tra sau thông quan, xử lý tăng thu cho ngân sách 1.100 nghìn tỷ đồng, thực hiện thu hồi và xử lý được 259 tỷ đồng số nợ thuế của các tờ khai phát sinh trước ngày 31/12/2015.

Cũng trong 8 tháng 2016, Hải quan đã bắt giữ trên 11.900 vụ buôn lậu, gian lận thương mại, xử lý tăng và thu về cho ngân sách 100 tỷ đồng. Cơ quan này đã khởi tố 31 vụ, chuyển cơ quan khác điều tra 42 vụ.

Trong báo cáo của Bộ Tài chính cũng nêu rõ, lĩnh vực hải quan tiếp tục triển khai mở rộng Cơ chế một cửa Quốc gia và một cửa ASEAN, hiện đã kết nối chính thức với 10/14 Bộ. Ngoài thủ tục thông quan hàng hoá, 33 thủ tục hành chính của 10 bộ còn lại đã được thực hiện thông qua cơ chế một cửa quốc gia. Còn về Cơ chế một cửa ASEAN, Hải quan đã thành lập 9 địa điểm kiểm tra chuyên ngành tại 7 địa phương

Đối với lĩnh vực thuế, tính đến ngày 19/8/2016, hệ thống khai thuế điện tử và nộp thuế điện tử đã được triển khai trên toàn quốc. Hiện có 550.000/552.000 doanh nghiệp tham gia dịch vụ khai thuế điện tử, đạt 99,6%. Số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận đến nay là 33,4 triệu hồ sơ. Còn dối với dịch vụ nộp thuế điện tử, có gần 530.000/552.000 doanh nghiệp sử dụng, đạt 95,7%.

Đối với hệ thống Kho bạc Nhà nước, sau 8 tháng năm 2016, đã tổ chức triển khai thí điểm thực hiện thủ tục giao dịch điện tử đối với dịch vụ công trên cổng thông tin Kho bạc Nhà nước theo quyết định số 2704/QĐ-BTC ngày 17/12/2-15 tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương từ đầu năm 2016.

Ở lĩnh vực chứng khoán, hiện đang triên khai thực hiện 4 dự án, bao gồm: an toàn bảo mật hệ thống công nghệ thông tin của UBCKNN; phát triển hệ thống công bố thông tin trên thị trường chứng khoán; lưu trữ ngành chứng khoán; triển khai hệ thống giám sát giao dịch chức khoán trên thị trường chứng khoán.

Đức Minh

Theo Trí thức trẻ