Thứ Hai, 8 tháng 5, 2017

13.438 tỷ đồng hoàn thuế cho Formosa, thua lỗ 2 doanh nghiệp vàng lớn ở Quảng Nam và câu chuyện doanh nghiệp FDI tại Việt Nam

Vai trò của khu vực FDI đối với kinh tế Việt Nam đến nay là không phủ nhận được. Nhưng bên cạnh những tích cực đó, là những câu chuyện cần suy nghĩ.

Những khoản tiền nghìn tỷ gây tranh cãi

Tháng 8/2016, khi mà dư luận vẫn đang nóng vì thảm hoạ môi trường ở Hà Tĩnh do công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa gây ra thì lại tiếp tục bị sốc trước thông tin doanh nghiệp này đã được bồi hoàn hơn 13.000 tỷ đồng.

Công văn 3475/TCT-KK ngày 4/8/2016 của Tổng cục Thống kê cho biết từ tháng 4/2014 đến tháng 5/2016, Cục Thuế Hà Tĩnh đã hoàn tổng cộng 13.438 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng cho Formosa.

Bình luận của các cơ quan chức năng cũng như các chuyên gia thì đây là việc hợp pháp vì chiếu theo Thông tư 205/2009/TT-BTC, đối với các máy móc, thiết bị trong nước chưa sản xuất được thì doanh nghiệp sẽ được hoàn thuế GTGT hàng nhập khẩu.

Tuy nhiên, trong một bài phân tích, TS. Vũ Thành Tự Anh (ĐH Fulbright) nhận định các quy định của Việt Nam có nhiều kẽ hở và để Formosa lợi dụng triệt để. Dẫn chứng ra việc thay vì dùng công nghệ xử lý cốc khô như ban đầu (công nghệ thân thiện môi trường) thì Formosa đã tự tiện đổi sang công nghệ xử lý cốc ước, công nghệ lạc hậu và trên giấy tờ vẫn liệt kê máy móc hiện đại nhập về do công nghệ Việt Nam không đáp ứng được.

“Quy định của Việt Nam hiện nay quá lỏng lẻo khi việc hoàn thuế chỉ dựa vào năng lực sản xuất trong nước – vốn rất yếu, chứ không dựa vào trình độ công nghệ, do vậy, vô hình trung mở dường cho công nghệ xả thải ngang nhiên vào Việt Nam”, TS. Tự Anh cho biết.

Câu chuyện đó, đặt bên cạnh con số hơn 13 nghìn tỷ đồng hoàn thuế, cao hơn mức bồi thường cho sự cố môi trường do công ty này gây ra đã khiến cho dư luận không khỏi suy nghĩ về những ưu đãi đang được dành cho các doanh nghiệp FDI.

Một trường hợp doanh nghiệp FDI khác cũng đáng lưu ý thời gian gần đây là chuyện của 2 công ty vàng thuộc Tập đoàn Besra Gold (trước đây là Olympus Pacific Minerals) tại Quảng Nam là Vàng Bồng Miêu và Vàng Phước Sơn.

2 doanh nghiệp này từng là những doanh nghiệp khai thác vàng vào loại lớn nhất ở Việt Nam nhưng giờ được xem là “điển hình” nợ nần tại Quảng Nam.

Cục trưởng Cục Thuế tỉnh Quảng Nam, ông Ngô Bốn trong 1 lần trả lời báo giới cho biết tính đến cuối tháng 5/2016, 2 công ty này đã nợ hơn 430 tỷ tiến thuế, vi phạm pháp luật về nợ thuế nhiều năm nay. Các cơ quan chức năng, liên bộ ngành đã vào cuộc nhưng không giải quyết được gì và số nợ ngày càng tăng.

Báo cáo của các đoàn kiểm tra cho biết sở dĩ 2 công ty vàng của Bersa nợ thuế là do 2 doanh nghiệp này bị lỗ.

Cụ thể, với vốn điều lệ chỉ 3 triệu USD nhưng tính đến 30/6/2014, Bồng Miêu đã lỗ lũy kế tới 30,1 triệu USD (674 tỷ đồng); nợ ngắn hạn lên đến 1.144 tỷ đồng, vượt 856 tỷ so với tài sản ngắn hạn.

Tình hình tài chính của Phước Sơn cũng tương tự: tính đến 30/6/2014, lỗ lũy kế của công ty ở mức gần 16 triệu USD (vốn điều lệ 5 triệu USD); nợ ngắn hạn hơn 60,5 triệu USD, vượt 39 triệu USD so với tài sản ngắn hạn.

Như vậy tổng lỗ lũy kế tính đến cuối tháng 6/2014 đã lên đến gần 46 triệu USD (xấp xỉ 1.000 tỷ đồng). Cộng thêm các chi phí lãi vay, khấu hao… trong 2 năm hoạt động cầm chừng vừa qua thì số lỗ thực tế lớn hơn nhiều.

Phía Cục Thuế Quảng Nam cho rằng bên cạnh nguyên nhân thua lỗ do giá vàng giảm, sự quản lý lỏng lẻo của giai đoạn trước, hay thiên tai thì còn có nguyên nhân không minh bạch giữa công ty trong nước vào công ty mẹ ở nước ngoài.

Cụ thể, có dấu hiệu của việc 2 công ty này bán vàng ra nước ngoài cho công ty mẹ với giá thấp trong khi nhập nguyên liệu vào với giá cao đê trốn, gian lận thuế.

Trong một động thái mới nhất, Besra đã tuyên bố rút chân khỏi 2 dự án khai thác vàng lớn nhất Việt Nam, đồng thời, thông báo tới các nhà đầu tư rằng đã ký một thoả thuận bán toàn bộ tài sản ở Việt Nam cho một công ty mới, được thành lập bởi 2 ông: Paul và David Seton – từng là cựu quản lý cao cấp của Besra.

Cụ thể, Besra sẽ bán toàn bộ tài sản ở mỏ vàng Bồng Miêu và Phước Sơn tại Quảng Nam cùng tất cả hoạt động của tập đoàn này tại Việt Nam cho đối tác này. Việc làm này đã bị đánh giá như một điều bất thường khi những người cựu quản lý, đã kinh qua trải nghiệm thua lỗ của doanh nghiệp mà vẫn mua lại tài sản từ Besra.

Câu chuyện cũ của Formosa, câu chuyện mới của Besra hay nhiều câu chuyện tồn đọng khác liên quan đến những bất minh bất cập, của các doanh nghiệp FDI gợi lên không ít câu hỏi đối với người tâm tư.

Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh trong rất nhiều bài viết của mình đã khẳng định quan điểm “nuông chiều FDI sẽ có ngày phải trả giá”. Trên thực tế, đã có nhiều giá phải trả mà 2 câu chuyện trên chỉ là một phần của bức tranh.

Vai trò, trách nhiệm và nỗ lực của Chính phủ

Vai trò của của khu vực FDI đối với kinh tế Việt Nam, thực tế không phủ nhận được. 3 điểm sáng của kinh tế Việt Nam 2016 gồm: công nghiệp chế biến chế tạo tiếp tục là động lực thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế ở khu vực công nghiệp; xuất khẩu tiếp tục giữ ở mức tăng trưởng cao; giải ngân FDI đạt mức cao kỷ lục đều phản ánh một thực trạng: tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện phụ thuộc rất nhiều vào FDI, do các doanh nghiệp FDI đều đang đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng của các khu vực này.

Nhìn ra các nước, đấy cũng là thực trạng chung. Ví dụ, thành công của các nước như Singapore, Malaysia, Thái Lan hay Trung Quốc đều có vai trò rất quan trọng của các doanh nghiệp FDI. Trong đó, Trung Quốc là trường hợp điển hình thành công trong việc thu hút FDI để trở thành nguồn lực cho tăng trưởng.

Cụ thể, sau khi chính thức gia nhập WTO năm 2001, Trung Quốc đã trở thành trung tâm thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài, nhờ đó trở thành “công xưởng thế giới”. Giai đoạn đó, tăng trưởng kinh tế Trung Quốc giữ ở mức cao nhất, trên 10%/năm.

Vì thế, việc khu vực FDI có giữ một vị thế quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam là hợp lý. Tuy nhiên, vấn đề ở đây chính là khu vực FDI đang giữ một vị thế quá lớn, lớn hơn mức bình thường với một nền kinh tế của một quốc gia đang phát triển. Đặc biệt, khu vực này đang được “nuông chiều, ưu đãi quá nhiều”.

Ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch VCCI trong một buổi phỏng vấn gần đây đã chia sẻ đầy tâm tư khi bảo doanh nghiệp tư nhân Việt Nam – dù được nhận định là động lực tăng trưởng của nền kinh tế nhưng lại chỉ có “tiếng mà không có miếng”. Trong khi đó, doanh nghiệp khối FDI, hết hưởng được cái này đến cái khác và đang tồn tại sự bất bình đẳng giữa 2 khu vực này.

Diễn dàn Doanh nghiệp Việt Nam VBF tháng 12/2016 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định doanh nghiệp FDI là một thành phần kinh tế Việt Nam – tức là thống nhất thành một khối, hướng tới định hướng lớn của Chính phủ “hình thành cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, gắn kết hợp tác hiệu quả trong nền kinh tế quốc gia thống nhất”.

Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, Thủ tướng cũng yêu cầu các doanh nghiêp FDI có sự hợp tác, chuyển giao công nghệ, chia sẻ kinh nghiệm quản trị, có trách nhiệm thực hiện đúng, đủ luật pháp Việt Nam.

Người đứng đầu Chính phủ cũng nhấn mạnh quan điểm Việt Nam không chấp nhận những nhà đầu tư coi Việt Nam là nơi chuyển giá, trốn tránh trách nhiệm, đi ngược lại những nguyên tắc cơ bản và giá trị cốt lõi. Đồng thời, cam kết Chính phủ sẽ tiếp tục hoàn thiện, bổ sung những chế tài, nhằm xử lý những vi phạm, nếu xảy ra.

Trên thực tế, các cơ quan lập pháp, hành pháp đang nỗ lực thực hiện những điều trên, vì một nền kinh tế khoẻ mạnh, tích cực hơn.

Nam Dương

Theo Trí thức trẻ

Nhiều người Việt cũng dính trò lừa đảo đa cấp ở Malaysia

Cuối tháng Tư, nhà sáng lập JJPTR Johnson Lee xuất hiện trong một đoạn video lan truyền trên mạng, tuyên bố tin tặc tấn công sàn giao dịch trên mạng của JJPTR làm “thất thoát” trên 500 triệu ringgit của các nhà đầu tư.

Thông tin này khiến nhiều người mất ăn mất ngủ trước nguy cơ trắng hàng tỷ ringgit tiền vốn đã đầu tư vào JJPTR.

Kể từ khi đi vào hoạt động trong hơn hai năm qua, JJPTR đưa ra các chương tài chính mua bán ngoại tệ như “Tài chính thông minh,” “Từ nghèo tới giàu” cùng với lời cam kết, hứa hẹn mang đến lợi nhuận cao, không rủi ro trong thời gian ngắn, do vậy, dù Ngân hàng Trung ương Malaysia (BNM) và báo chí đã nhiều lần cảnh báo về các chương trình này nhưng JJPTR vẫn lôi kéo được nhiều người ở Malaysia cũng như ở nước ngoài tham gia.

Cũng giống như các kênh đầu tư không chính thống khác, JJPTR hứa hẹn người tham gia sẽ có lợi nhuận hàng tháng trên 20% số tiền bỏ ra ban đầu, thậm chí 30% hay cao hơn, chính vì vậy đã thu hút nhiều người đầu tư ở Malaysia, trong đó có không ít người Việt Nam đang lao động tại Malaysia và cả các nhà đầu tư nước ngoài như Trung Quốc, Canada và Việt Nam.

Theo số liệu thống kê cho thấy, có khoảng 400 chương trình đầu tư siêu lợi nhuận mờ ám giống như JJPTR đang gặp bê bối ở Malaysia.

Mô hình hoạt động của các chương trình lừa đảo khá giống nhau, các đối tượng dụ dỗ người tham gia bỏ càng nhiều tiền thì càng có lãi suất cao.

Các cá nhân và tổ chức lừa đảo thường đánh vào lòng tham, tổ chức những buổi hội thảo rồi thuyết giảng về đầu tư siêu lợi nhuận để trở thành đại gia sau vài tháng.

Người tham gia vì hám lợi dụ dỗ thêm người thân, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp rót tiền vào để được cộng điểm và tăng lãi suất (còn gọi là hình thức đa cấp hay hình tháp ảo).

Nhưng cuối cùng những nhà đầu tư này mất trắng khi các đối tượng lừa đảo đột nhiên mất tích hoặc công ty tuyên bố phá sản hay sàn giao dịch trên mạng đóng cửa.

Trước tình hình trên, Ngân hàng Trung ương Malaysia (BNM) ngày 3/5 đã đưa ra cảnh báo sẽ mạnh tay với các chương trình tài chính bất hợp pháp thông qua việc áp dụng hàng loạt đạo luật khác nhau, theo đó không chỉ những người tham gia quảng bá các chương trình này mà cả những nhà đầu tư tham gia chương trình cũng sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Các đạo luật có thể được áp dụng bao gồm Đạo luật về BNM, Bộ luật hình sự, các đạo luật về gây quỹ 2016, luật về bán hàng trực tiếp và chống bán hàng đa cấp 1993, luật về chống rửa tiền, chống khủng bố tài chính và các hoạt động trái luật 2001.

BNM cảnh báo người dân không tham gia vào các chương trình tài chính hứa hẹn lợi nhuận hoặc lãi suất cao phi thực tế.

Bên cạnh đó, BNM cũng chỉ đạo các tổ chức tài chính, các nhà cung cấp dịch vụ kinh doanh cần phải tăng cường giám sát để phát hiện các tài khoản dùng để thực hiện các chương trình, hoạt động gian lận tài chính.

Các tổ chức này cần phải tăng cường chính sách và quy trình kiểm tra danh tính khách hàng (CDD) để xác định các giao dịch đáng ngờ và dòng tiền giữa các tài khoản ngân hàng để tránh việc tạo điều kiện cho các chương trình tài chính bất hợp pháp./.

Theo Lê Hòa

Vietnam+

TS Trần Đình Thiên: Việt Nam dựa quá lâu vào các ngành cổ điển

Theo PGS. TS Trần Đình Thiên - Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong thời gian qua, Việt Nam phát triển công nghiệp hóa một cách "cổ điển", mô hình tăng trưởng dựa quá lâu vào các ngành khai thác tài nguyên, công nghiệp truyền thống, các ngành công nghệ thấp tiêu tốn năng lượng.

Cần khoảng 148 tỉ USD cho phát triển nguồn và lưới điện

Theo Quy hoạch năng lượng quốc gia được Tổng cục năng lượng (Bộ Công Thương) công bố, dự báo nhu cầu năng lượng cuối cùng theo nhiên liệu, tổng nhu cầu năng lượng của Việt Nam năm 2020 khoảng 71,337 KTOE, tăng lên 137,834 KTOE vào năm 2035.

Tổng công suất đặt các nhà máy điện trong hệ thống sẽ đạt mức 103,7 GW (2025); 133,1GW (2030); 168,5GW (2035). Điện năng sản xuất trong kịch bản cơ sở sẽ tăng tương ứng 338 TWh; 551 TWh; 741,6 TWh vào các năm 2025; 2030; 2035.

Phát biểu tại "Diễn đàn năng lượng Việt Nam 2017: Hiện tại và tương lai" vừa qua, ông Phan Thế Hùng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục năng lượng cho biết với mức dự báo giá nhiên liệu cập nhật, các nguồn tài nguyên khí, than, dầu thô sẽ được huy động hết, thiếu hụt sẽ được bù đắp bởi than và khí LNG nhập khẩu.

Các dự án chính dầu khí đều được thực hiện, đặc biệt là các dự án lọc dầu, các dự án đều vào trong giai đoạn quy hoạch trừ Dự án Nhơn Hội lùi lại đến 2029.

Các dự án theo Tổng sơ đồ điện 7 hiệu chỉnh đến 2030, giai đoạn từ 2031 trở đi phần điện hạt nhân sẽ được bù đắp bởi than, LNG nhập và điện gió...

Theo tính toán, tổng vốn đầu tư của phát triển nguồn và lưới điện giai đoạn 2016-2030 sẽ vào khoảng 148 tỉ USD. Trong đó, giai đoạn 2016- 2020 là khoảng 40 tỉ USD. Giai đoạn 2021-2030 là khoảng 108 tỉ USD.

Phải thay đổi cách tiếp cận chiến lược năng lượng

Theo PGS. TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, trong thời gian qua, Việt Nam phát triển công nghiệp hóa một cách “cổ điển”, mô hình tăng trưởng dựa quá lâu vào các ngành khai thác tài nguyên, công nghiệp truyền thống, các ngành công nghệ thấp tiêu tốn năng lượng. Đơn cử như ngành nông nghiệp được xem là ngành tiêu tốn ít năng lượng nhưng thực tế không phải vậy.

Việt Nam đang duy trì, phát triển nền nông nghiệp chạy theo sản lượng. Ông Thiên dẫn chứng mỗi tấn gạo chất lượng cao có thể bán giá bằng 10 tấn gạo chất lượng thấp. Nhưng để sản xuất ra 10 tấn lúa gạo chất lượng thấp đó, Việt Nam phải tiêu tốn nhiều hơn các loại nguyên liệu đầu vào như diện tích đất trồng, nước, giống, phân bón, thuốc trừ sâu, bơm nước, xay xát, chuyên chở...

Điều này dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, tiêu tốn tài nguyên, tiêu tốn năng lượng ô nhiễm môi trường... Hiện lãng phí năng lượng trong công nghiệp ngành xi măng của nước ta ở mức 50%, gốm sứ 35%, dệt may 30%, thép 20%, nông nghiệp 50%...

Ông Thiên cũng cho rằng, Việt Nam không thể cạnh tranh với chi phí năng lượng quá cao do sự lãng phí từ phía sử dụng. Do đó, ông đề xuất phải thay đổi toàn bộ tư duy và cách tiếp cận chiến lược năng lượng. Bên cạnh sự nỗ lực từ phía nguồn cung điện, thì việc tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và tiêu dùng phải là bắt buộc chứ không chỉ là "cần lựa chọn".

"Phải thúc đẩy việc tiêu thụ năng lượng trong một nền kinh tế thông minh, công nghệ hiện đại áp dụng vào cả sản xuất năng lượng và tiêu thụ năng lượng để giảm thiểu chi phí... Điểm mấu chốt để giải quyết chiến lược là Bộ Công Thương cần đặt Chiến lược Phát triển nhiệt điện than trong tổng thế chiến lược cơ cấu ngành để giải quyết. Nếu còn tách rời khả năng giải quyết một cách thuyết phục sẽ khó khăn", PGS.TS Trần Đình Thiên cho hay.

Để hướng tới thị trường năng lượng minh bạch, đầy đủ, việc tính đến yếu tố giá tiêu thụ năng lượng như thế nào cũng là bài toán gây nhiều trăn trở. Ông Ngô Đông Hải, Phó Trưởng Ban Kinh tế trung ương cho rằng cần phân định nhiệm vụ công ích với chiến lược phát triển để có chiến lược phù hợp hơn...

"Trong chiến lược phát triển năng lượng song song với việc đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, khai thác tiềm năng của đất nước gió, mặt trời thì chiến lược phát triển năng lượng truyền thống cũng rất quan trọng", ông Hải nhận định.

Góp mặt tại diễn đàn, nhiều chuyên gia kinh tế cũng cho rằng, chiến lược năng lượng cần phải đặt trong chiến lược về công nghệ thì mới giải quyết được sự căng thẳng trong cung - cầu năng lượng. Cùng với đó là ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao thay vì các ngành "cổ điển" tiêu tốn tài nguyên và năng lượng; hướng tới hệ thống năng lượng sạch và an toàn với trục chính là các nguồn năng lượng tái tạo.

Hiện nay, quá trình phát triển năng lượng của Việt Nam được nhận đình còn những hạn chế, xuất hiện tình trạng mất cân đối giữa các phân ngành năng lượng, giữa cung ứng và nhu cầu, giữa nhu cầu đầu tư và nguồn vốn đầu tư. Hiệu suất chung của ngành năng lượng thấp, sử dụng năng lượng chưa tiết kiệm và chưa hiệu quả. Phát triển năng lượng chưa thực sự gắn kết với giữ gìn môi trường sinh thái nhằm bảo đảm thực hiện phát triển năng lượng bền vững.

Theo Tuyết Nhung

Một thế giới

Doanh nghiệp dân doanh tiếp tục dẫn đầu về nợ bảo hiểm

Chính phủ báo cáo Quốc hội tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội năm 2016...

Số nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc đã giảm, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh vẫn giữ ngôi "vô địch" nợ nần.

Chính phủ vừa gửi đến các vị đại biểu Quốc hội báo cáo về tình hình thực hiện chính sách, chế độ bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội năm 2016.

Thừa uỷ quyền Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung ký báo cáo này.

Bộ trưởng cho biết, tổng số người tham gia bảo hiểm xã hội tính đến hết năm 2016 là 13.065.763 người, tăng 775.234 người so với năm 2015 (tương ứng với 6,31%). Tính đến hết ngày 31/12/2016, số thu bảo hiểm xã hội ước 174,5 nghìn tỷ đồng.

Thiếu quyền lợi của 39 ngàn người

Theo báo cáo, 2016 là năm đầu tiên cơ quan bảo hiểm xã hội thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng bảo hiểm xã hội.

Trong năm, cơ quan bảo hiểm xã hội các cấp đã thực hiện 7.578 cuộc thanh tra, kiểm tra tại 13.729 đơn vị sử dụng lao động, phối hợp thực hiện thanh tra, kiểm tra liên ngành 2.452 cuộc tại 4.896 đơn vị sử dụng lao động.

Qua đó, phát hiện 39.445 người lao động chưa được đóng hoặc được đóng thiếu thời gian với số tiền trên 23,6 tỷ đồng; 11.600 người lao động được đóng thiếu mức tiền lương theo quy định của pháp luật với số tiền trên 9 tỷ đồng; 6.800 lượt người hưởng sai quy định với số tiền gần 7,9 tỷ đồng.

Kết quả đã thu hồi về quỹ bảo hiểm xã hội số tiền trên 62 tỷ đồng (bao gồm cả số thu hồi được trong năm do vi phạm từ năm 2015), xử phạt vi phạm hành chính 104 đơn vị sử dụng lao động với số tiền 2,1 tỷ đồng, trong đó đã thu được 1,5 tỷ đồng.

Báo cáo nêu rõ, qua thanh tra, kiểm tra cho thấy tình trạng các đơn vị, doanh nghiệp vi phạm pháp luật bảo hiểm xã hội còn diễn ra phổ biến, các vi phạm điển hình là không đóng bảo hiểm xã hội hoặc đóng không đủ số người thuộc diện tham gia, chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội của người lao động, ghi mức lương trong hợp đồng lao động thấp hơn mức lương thực trả, ký hợp đồng lao động theo thời vụ nhiều lần để trốn đóng bảo hiểm xã hội, gian lận trong việc lập hồ sơ thực hiện chế độ.

Tình hình vi phạm sau thanh tra, kiểm tra vẫn diễn biến phức tạp, nhiều đơn vị tuy đã bị xử phạt nhưng vẫn tiếp tục vi phạm - Bộ trưởng Dung đánh giá.

Vẫn chiếm ngôi đầu

Sau khi "nhường ngôi" vô địch cho khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở 2014, đến 2015 và tiếp 2016 khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh giữ vững vị trí số 1 về nợ bảo hiểm xã hội.

Tính đến hết ngày 31/12/ 2016, nợ bảo hiểm xã hội bắt buộc là 6,55 nghìn tỷ đồng, bằng 3,64% tổng số phải thu. Số nợ cuối năm 2016 giảm 510 tỷ đồng so với số nợ cuối năm 2015 (tương ứng với 7,2%).

Nợ đọng tập trung ở khu vực các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (8,66% so với số phải thu), các hợp tác xã (6,28% ) và các doanh nghiệp Nhà nước (5,5% ).

Về cân đối thu chi, Bộ trưởng Dung giải thích, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 thì từ ngày 1/1/ 2016, quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc và quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện nhập thành một quỹ chung. Ước đến hết ngày 31/12 /2016, kết dư quỹ bảo hiểm xã hội khoảng 453,5 nghìn tỷ đồng, tăng 22,44% so với cuối năm 2015 .

Với hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ, con số được nêu tại báo cáo là tiền đầu tư trong năm là 150.061 tỷ đồng, số thu hồi (gốc) là 67.071 tỷ đồng. Tổng số dư nợ đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế lũy kế đến cuối năm là 500.258 tỷ đồng, tăng 19% so năm 2015.

Các hình thức đầu tư chủ yếu là mua trái phiếu Chính phủ, cho ngân sách nhà nước vay, gửi tiền tại các ngân hàng thương mại có chất lượng hoạt động lành mạnh theo xếp loại tín nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Theo đó, số tiền sinh lời của hoạt động đầu tư trong năm khoảng 34.407 tỷ đồng, tăng 1.930 tỷ đồng (5,9%) so năm 2015, tỷ lệ tiền lãi thu được tính trên số dư nợ đầu tư bình quân đạt 7,23%.

Dự kiến số tiền sinh lời bổ sung vào quỹ bảo hiểm xã hội khoảng 20.094 tỷ đồng, quỹ bảo hiểm thất nghiệp khoảng 3.683 tỷ đồng; số còn lại được phân bổ vào quỹ bảo hiểm y tế, trích chi phí quản lý bảo hiểm xã hội.

Theo Nguyên Vũ

Vneconomy

“Đại gia” chăn nuôi cũng gặp khó vì giá lợn sụt giảm

2017 được nhận định là một năm đầy khó khăn, thách thức với các doanh nghiệp trong ngành chăn nuôi...

Giá thịt lợn hơi liên tục rớt từ quý 4/2016 đến nay không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của nhiều hộ chăn nuôi mà còn đe doạ kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Lãnh đạo Công ty Cổ phần Tập đoàn Dabaco Việt Nam (Mã DBC) cho hay, năm 2016, giá thịt lợn tăng cao trong một thời gian dài đã mang lại lợi nhuận cho người chăn nuôi. Sản lượng thịt tiêu thụ năm 2016 của công ty đạt trên 18,5 nghìn tấn, đạt 86,3% so với kế hoạch.

Tuy nhiên, đây chính là yếu tố kích thích việc tăng đàn không kiểm soát. Trong 2 năm qua (2015-2016), ngành chăn nuôi lợn phát triển thiếu định hướng và quá nóng dẫn đến tăng đàn quá mức, cung vượt cầu, cùng với việc Trung Quốc ngừng nhập khẩu qua đường tiểu ngạch khiến từ quý 4/2016, giá thịt lợn lao dốc không phanh, đẩy công ty vào hệ luỵ khó tiêu thụ sản phẩm.

Mặc dù kết quả kinh doanh cả năm 2016 vẫn tăng mạnh, lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 451 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi so với năm 2015 (lợi nhuận 2015 là 252 tỷ đồng), tuy nhiên, dự báo thị trường vẫn gặp nhiều khó khăn, năm 2017, công ty này đặt kế hoạch giảm lãi.

Theo đó, lợi nhuận sau thuế dự kiến năm 2017 của Dabaco còn 317 tỷ đồng, giảm gần 30% so với năm 2016. Trong đó, lợi nhuận từ sản xuất kinh doanh chính dự kiến đạt 260 tỷ đồng.

Đúng như kế hoạch “khiêm tốn” đề ra, ngay những tháng đầu năm, khó khăn về việc tiêu thụ lợn đã thể hiện ngay ở báo cáo kết quả kinh doanh quý 1.

Cụ thể, doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ đạt 1.475 tỷ đồng (tăng 14% so với cùng kỳ năm ngoái), tuy nhiên, do giá vốn hàng bán tăng mạnh khiến lợi nhuận sau thuế công ty giảm chỉ còn 13 tỷ đồng. Trước đó, lợi nhuận cùng kỳ năm 2016 công ty đạt 67 tỷ đồng.

Để “cứu vãn” kết quả kinh doanh, lãnh đạo Dabaco đề xuất Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo cho người chăn nuôi và doanh nghiệp về nhu cầu thị trường; ngừng nhập khẩu thịt, dành thị phần cho thị trường nội địa. Trước mắt, giảm số lượng đàn nái, tăng chất lượng.

Tổng công ty Chăn nuôi Việt Nam (Vilico) cũng rơi vào tình cảnh tương tự.

Ban lãnh đạo công ty này thừa nhận, những tháng cuối năm, nhất là từ tháng 11-12/2016 và kéo dài sang năm 2017, việc xuất bán lợn thịt sang thị trường Trung Quốc bị chững lại, cả giá bán và sức tiêu thụ đều giảm mạnh, dẫn đến thị trường lợn giống khó khăn, giá bán thấp, ứ đọng sản phẩm. Áp lực về chuồng trại, nhân công, nguy cơ dịch bệnh tăng.

“Bên cạnh đó, giá bán sản phẩm cũng giảm rất mạnh so với mức bình quân năm 2016. Giá bán sản phẩm lợn bình quân quý 1/2017 thấp hơn so với giá thành. Dự kiến hoạt động sản xuất chăn nuôi lợn sẽ tiếp tục gặp khó khăn trong thời gian tới”, lãnh đạo công ty nhận định.

Giá thịt lợn hơi giảm từ đầu năm đến nay, có lúc xuống đến 20.000 đồng/kg đã đẩy người chăn nuôi, doanh nghiệp vào khó khăn, thua lỗ triền miên.

Trước tình trạng này, mới đây, Bộ Nông nghiệp đã lên tiếng kêu gọi các Bộ, ngành cùng doanh nghiệp, người dân ra tay “giải cứu” thịt lợn.

Hiện tại, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã có công văn số gửi các tổ chức tín dụng yêu cầu căn cứ vào khả năng tài chính để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay chăn nuôi, sản xuất thức ăn chăn nuôi và sản xuất thuốc thú y.

Bộ Tài chính cũng đã gửi công văn tới sở tài chính và các doanh nghiệp thuốc thú y và thức ăn chăn nuôi về việc tăng cường biện pháp để bình ổn thị trường thịt lợn.

Tuy nhiên, trái ngược với tỉnh cảnh khó khăn của Dabaco và Vilico, nhờ lợn hơi rớt giá, Công ty Cổ phần Kỹ nghệ súc sản - Vissan (Mã VSN) - một công ty chế biến - đã lãi đậm trong quý 1/2017, đạt 48 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm 2016.

Theo Kiều Linh

Vneconomy

Nhân lực công nghệ cao sẽ giúp Việt Nam bắt kịp công nghiệp 4.0

Tiến tới Công nghiệp 4.0 liên tục là chủ đề nóng, được quan tâm tại nhiều diễn đàn trong thời gian qua.

Nhưng để tận dụng các cơ hội và bắt kịp Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0, nhiều chuyên gia cho rằng chưa cần “đao to búa lớn,” mà Việt Nam cần phải bắt đầu ngay từ những việc đơn giản nhất, thiết yếu và bền vững nhất là phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao.

Có thể thấy các khái niệm công nghệ gần đây như điện toán đám mây, công nghiệp 4.0, in 3D, hay tự động hóa... đã mang đến những thay đổi và định hướng mới không chỉ đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh mà trong cả việc giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam.

Để ứng dụng công nghệ mới, tự động hóa vào hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả, các doanh nghiệp buộc phải tìm kiếm nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng làm việc, đặc biệt là các vị trí có liên quan trực tiếp đến sản phẩm dịch vụ như nghiên cứu phát triển, thiết kế sản xuất sản phẩm. Điều đó tạo nên sức ép đồng thời cũng là cơ hội đối với các trường đào tạo và nhân lực Việt Nam trong tương lai gần.

Theo ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam, tính khả thi của Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 nên bắt đầu bằng những bước nhỏ và đơn giản nhưng cần được thực hiện ngay. Thiết yếu nhất là đầu tư vào nguồn nhân lực. Sau đó các nhà sản xuất nên mạnh dạn đổi mới công nghệ. Và không thể thiếu sự hợp tác chặt chẽ để tối đa hóa hiệu quả của các doanh nghiệp, tránh đầu tư chồng chéo.

Với mục tiêu đưa công nghệ và kỹ thuật mới vào đào tạo nhân lực, nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu về nhân sự của các doanh nghiệp cũng như nâng cao hiệu quả của việc nghiên cứu phát triển trong các viện, trường học, Công ty Vietbay đã hợp tác với Siemens Industry PLM ký hợp tác với 3 trường Đại học gồm Học viện Kỹ thuật Quân sự (MTA), Viện Cơ khí Đại học Bách Khoa Hà Nội và Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải.

Ông Võ Hồng Kỳ, Giám đốc Siemens PLM tại Việt Nam cho hay, hợp tác này nhằm nâng cao trình độ và chất lượng của sinh viên sau tốt nghiệp, tạo cơ hội việc làm tốt khi ra trường; nâng cao trình độ giảng viên đào tạo công nghệ phần mềm theo tiêu chuẩn của hãng sản xuất; và xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành kỹ thuật.

Ông Mai Duy Quang, Phó Chủ tịch Hiệp hội phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin Việt Nam (VINASA) cho rằng, không phải một sớm một chiều mà doanh nghiệp có thể đưa vào internet vạn vật, big data, trí thông minh nhân tạo vào hoạt động, nhưng doanh nghiệp có thể cải thiện ngay hiệu suất làm việc bằng chất lượng nhân viên, quản lý công việc.

Có thể trong các công nghệ tên lửa, vũ trụ thì Việt Nam cách thế giới khoảng cách xa, vài trăm năm. Nhưng trong cuộc cách mạng 4.0, dựa trên công nghệ thông tin, thì nhân lực Việt Nam có thế mạnh đã tích góp 10-20 năm làm công nghệ thông tin, outsource... Do vậy, khả năng bắt kịp công nghệ tiên tiến của Việt Nam cũng khá là cao.

Tuy nhiên, cách mạng công nghiệp lần thứ 4, Chính phủ cần có hành động cụ thể, chứ không chỉ kêu gọi, phải tạo điều kiện để thúc đẩy các doanh nghiệp sáng tạo mạnh hơn. Còn với doanh nghiệp truyền thống thì hoàn thiện mình, cải thiện năng lực sản xuất, không chỉ dựa vào nhân công giá rẻ, mà phải dựa vào nhân lực công nghệ, sáng tạo, ông Quang nói thêm.

Nhiều chuyên gia cho rằng trên thực tế, trình độ sản xuất hiện tại của Việt Nam mới ở giai đoạn Công nghiệp 2.0 hoặc Công nghiệp 3.0, sản xuất chính vẫn ở trình độ thấp bởi thiếu hụt các công nghệ mới, thiếu thông tin, kỹ năng, cơ sở hạ tầng và hỗ trợ.

Việt Nam đang cố gắng để tham gia vào kỷ nguyên công nghệ mới 4.0. Do vậy, ngoài sự hỗ trợ của nhà nước, phân tích dữ liệu, quản lý nền kinh tế, một yếu tố chính quyết định sự phát triển của công nghiệp 4.0 đó là nguồn nhân lực.

Theo thông tin từ Reed Tradex, trong năm 2016, số lượng người sử dụng phương tiện truyền thông xã hội tăng 31% và số người sử dụng mạng xã hội di động tăng 41%.

Ông Isara Burintramart, Giám đốc điều hành Công ty Reed Tradex tin rằng, nguồn nhân lực Việt Nam đã sẵn sàng học hỏi và bước vào kỷ nguyên Công nghiệp 4.0. Cách tốt nhất để tiếp cận cuộc cách mạng 4.0 là việc phải bắt đầu, mặc dù chỉ là những bước nhỏ với việc lập ra chiến lược, dự án thí điểm./.

Theo Đức Dũng

Vietnam+

VCCI sẽ đề xuất 5 nhóm kiến nghị gỡ khó cho doanh nghiệp tại hội nghị với Thủ tướng

Phía VCCI cho biết họ sẽ chuyển 200 ý kiến của doanh nghiệp được tập hợp từ đầu năm đến Thủ tướng trong Hội nghị Thủ tướng gặp doanh nghiệp hôm 17/5 sắp tới.

Ngày 17/5 sắp tới, Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng sẽ tham dự Hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp nhằm lắng nghe các tâm tư, nguyện vọng của cộng đồng này.

Đây cũng là dịp để sơ kết, đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, đề xuất những giải pháp để thực hiện có hiệu quả hoặc sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 35.

Qua trao đổi, bà Phạm Thị Thu Hằng – Tổng Thư ký Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho hay, tổng kết Nghị quyết 35 không chỉ nhìn lại Chính phủ đã làm được gì mà cả chính quyền địa phương, các doanh nghiệp đã làm được gì sau một năm.

Trên cơ sở đó, VCCI đang tập hợp các ý kiến của hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp và cơ quan này dự kiến đưa ra 5 nhóm kiến nghị nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Hiện tại, những kiến nghị này vẫn đang được giữ kín.

Đại diện VCCI cho biết hiện các kiến nghị của doanh nghiệp gửi tới Hội nghị theo hai kênh: Văn phòng Chính phủ và VCCI. Sau hội nghị năm 2016, đã có 320 kiến nghị của doanh nghiệp được gửi tới Ban tổ chức, trong đó có 200 kiến nghị đã được giải quyết ngay tại Hội nghị. Từ đầu năm tới nay VCCI và Văn phòng Chính phủ nhận được tổng cộng 400 kiến nghị.

"Với hàng trăm kiến nghị như vậy, VCCI đề xuất phân thành từng nhóm vấn đề lớn để tập trung giải quyết", bà Hằng cho biết.

Tựu chung lại, có 2 nhóm kiến nghị chính mà doanh nghiệp muốn được Chính phủ tháo gỡ là những quy định, văn bản ban hành chồng chéo, bất hợp ký ở các cấp và giải quyết các thủ tục hành chính.

Trên thực tế, trong số những kiến nghị được đưa ra, cũng có một số kiến nghị cũ được lập lại. Lý giải điều này, đại diện VCCI cho biết phần lớn kiến nghị đã được phản hồi, tuy nhiên, một số cái lại được trả lời dưới dạng giải thích.

"Doanh nghiệp mong muốn quy định thông thoáng, chặt chẽ hơn và tạo điều kiện phát triển thay vì nghe giải thích về các quy định từ các Bộ ngành", bà Hằng cho biết. Mặt khác, bà cũng cho rằng doanh nghiệp nêu ra lại là vì họ chưa biết về thông tin đó.

Đại diện VCCI chia sẻ với các kiến nghị là vấn đề trực diện của doanh nghiệp cần phân tích để rõ nguồn gốc của vấn đề. Bởi nếu giải quyết trực tiếp cho doanh nghiệp rất dễ vướng cơ chế xin - cho. Giải quyết gián tiếp vấn đề đó qua sửa văn bản thủ tục lại sợ không tới được doanh nghiệp.

Nhìn lại một năm đưa ra thông điệp Chính phủ kiến tạo, bà Phạm Thị Thu Hằng đánh giá Chính phủ đã có nhiều lỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp. Tuy nhiên, vẫn cần thời gian để thay đổi cả các cấp chính quyền địa phương, những người trực tiếp thực thi các quy định, thủ tục hành chính.

Bình Minh

Theo Trí thức trẻ