Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

CEO Viettel: “Nhiều khi cơ hội đến nhờ chúng ta quá nghèo, không biết gì...”

Ông Nguyễn Mạnh Hùng – TGĐ Tập đoàn Viettel cho rằng chính việc nghèo hơn, không biết gì chính là cơ hội để Việt Nam có thể làm được điều thần kỳ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

Hội trường Diễn đàn “Cách mạng công nghiệp 4.0: Được và Mất” chiều ngày 7/4 đã có một tràng pháo tay giòn giã sau câu hỏi “Việt Nam có bắt kịp cách mạng công nghiệp lần thứ 4 không?”.

Đây được đánh giá là tiếng vỗ tay của nỗi buồn. Bởi lẽ, nó là kết quả của việc 67% người trong khán phòng cho rằng Việt Nam không bắt kịp được cách mạng công nghiệp, và chỉ có 33% lạc quan cho rằng có thể bắt kịp được mà thôi.

“Nói Việt Nam có thể đi tắt đón đầu cuộc cách mạng này là lạc quan tếu”, bà Nguyễn Thanh Huyền, TGĐ Công ty May 10 cho biết.

Tuy nhiên, ngược hẳn với suy nghĩ của hầu hết diễn đàn, ông Nguyễn Mạnh Hùng, CEO của Tập đoàn Viettel lại cho rằng với những suy nghĩ như thế là đi ngược lại với tinh thần tiến lên cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

“Nếu chúng ta đặt câu hỏi có hay không, mà nghĩ là không thì coi như diễn đàn này có thể kết thúc. Nếu nghĩ rằng 33% là kết quả buồn thì đấy không phải là tư duy cho cách mạng 4.0, 33% là tốt rồi!”, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho biết.

Cuộc cách mạng lần thứ 4, theo quan điểm của ông Hùng là việc từ cái A sinh ra một cái B – hoàn toàn mới, chứ không phải là việc cải tiến từ cái A có sẵn.

“Đấy là cơ hội rất lớn cho Việt Nam. Nếu sinh ra B để thay thế A có sẵn thì việc doanh nghiệp có A sẽ tồn tại nhiều nguy cơ hơn một doanh nghiệp vốn chưa từng có A”, TGĐ Viettel nhận định.

Do đó, Việt Nam với nền tảng thấp, nghèo, hạn chế về công nghệ làm ngay một cái mới, chưa từng có là một điều rất thuận lợi.

“Nhiều khi cơ hội đến khi chúng ta quá nghèo, không biết gì. Thậm chí, làm ngược lại những gì chúng ta đang làm thì đấy có thể là 4.0 ngay”, ông Hùng nói.

Lấy ví dụ như việc mua máy điều hoà, ông Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng người tiêu dùng chỉ muốn mua không khí lạnh cho 3 tháng, 9 tháng còn lại chiếc máy gần như vô dụng. Do đó, nếu có người bán bán được không khí lạnh thì hẳn đó là cuộc cách mạng.

“Đó có thể là uber của giới bán máy điều hoà”, ông cho hay.

Hay như Internet từng được xem là thành tựu lớn của nhân loại, nhưng hiện tại Internet đã không dùng được nữa. Bởi lẽ, với một câu hỏi được gõ vào thanh công cụ Google sẽ thu được hơn 10.000 câu trả lời mà đa số chúng chưa được kiểm chứng, thậm chí, Google đang đưa câu trả lời dựa trên quảng cáo, nên tính xác tín càng kém hơn.

“Nếu có một group có thể đưa ra 1 câu trả lời xác thực, làm ngược lại cái đang có, thì đấy là cái mới, cái đáp ứng cho cộng đồng”, ông Hùng cho hay.

Do đó, người đứng đầu của tập đoàn Viettel cho rằng đối với cuộc cách mạng lần thứ 4 này, chúng ta phải nghĩ khác đi, không nên đi vào lối mòn cũ.

“Chúng ta nên nghĩ cách mạng thứ 4 là cuộc cách mạng của việc phát hiện nhu cầu, như thế chúng ta sẽ có sức mạnh lớn. Nếu nghĩ là cuộc cách mạng cho người giàu thì chúng ta không có cơ hội đâu, nhưng nếu đây là cách mạng toàn dân, mọi người dân đều tham gia được thì đấy là lợi thế của Việt Nam”, CEO Viettel cho biết.

Ông cũng cho rằng mỗi một làn sóng cách mạng sẽ cho phép 4 -5 nước hoá rồng, do đó, nếu không đón đầu, đi trước thì chúng ta mãi mãi không đón nhận được, chúng ta chỉ có thể có giá trị khi làm những việc người khác chưa làm mà thôi.

Đức Minh

Theo Trí thức trẻ

12 doanh nghiệp Việt trước cơ hội vào chuỗi cung ứng Samsung

Hiện số lượng doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng cho Samsung tại Việt Nam là 201...

Ngày 5/4, Samsung Việt Nam đã công bố triển khai chương trình tư vấn hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng phụ kiện năm 2017.

Theo lộ trình của Samsung Việt Nam, bắt đầu từ năm 2015, doanh nghiệp này tập trung vào các ngành công nghiệp như in ấn, đóng gói và ép nhựa, năm 2017, Samsung sẽ mở rộng phạm vi tư vấn hỗ trợ sang lĩnh vực công nghiệp kỹ thuật cao như điện/điện tử (bản mạch điện tử PCB, loa TV, bộ dây dẫn điện...) để giúp các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất các linh kiện điện tử phức tạp có giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Samsung Việt Nam cho biết, mục tiêu năm 2017 là sẽ tư vấn cho 12 doanh nghiệp Việt Nam, nâng tổng số doanh nghiệp được tư vấn lên con số 26, tính từ năm 2015.

Đây cũng là lần đầu tiên, các công ty con của Samsung như Samsung Display Việt Nam và Samsung Điện cơ Việt Nam (Samsung Electro Mechanics Vietnam) tham gia vào chương trình tư vấn này.

Samsung cũng sẽ thí điểm áp dụng mô hình để doanh nghiệp cung ứng cấp 1 hướng dẫn doanh nghiệp cung ứng cấp 2, nhằm tạo ra hiệu ứng phát triển lan tỏa trong ngành công nghiệp phụ trợ.

Theo chương trình tư vấn, Samsung sẽ cử các chuyên gia Hàn Quốc giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực công nghệ sản xuất thành phẩm và quản lý chất lượng sản xuất sang trực tiếp hướng dẫn trong 12 tuần.

Các chuyên gia Hàn Quốc sẽ khảo sát, đánh giá các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian 2 tuần và trực tiếp tư vấn, làm việc cùng doanh nghiệp trong 10 tuần tiếp theo, nhằm cải tiến quy trình sản xuất và hoàn thiện các tiêu chuẩn trong việc cung ứng sản phẩm, linh kiện cho các nhà máy của Samsung tại Việt Nam.

Ông Han Myoung Sup, Tổng giám đốc Samsung Việt Nam nói, việc chuyển hướng tư vấn và hỗ trợ sang ngành công nghiệp kỹ thuật cao giúp các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất được các linh kiện phức tạp hơn và tham gia vào chuỗi giá trị cao hơn.

Hiện số lượng doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng cho Samsung tại Việt Nam là 201 (23 doanh nghiệp cấp 1 và 178 doanh nghiệp cấp 2). Các doanh nghiệp này hiện đang cung cấp phụ kiện cho 3 nhà máy của Samsung tại Việt Nam là Samsung Electronics Việt Nam (SEV), Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên (SEVT) và tổ hợp SEHC (Tp.HCM).

Theo Samsung Việt Nam, dự kiến tổng số doanh nghiệp cấp 1 của công ty sẽ tăng lên con số 29 trong năm 2017. Cũng trong năm nay, Samsung Việt Nam dự kiến đạt bước tiến vượt bậc trong việc tăng tỉ lệ nội địa hóa sản phẩm, từ 35% năm 2014 lên 57%.

Theo Thủy Diệu

VnEconomy

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đa cấp rất thấp, trên 50% doanh nghiệp báo lỗ

Đến cuối tháng 3 năm 2017, số lượng doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã giảm 30 doanh nghiệp xuống còn 37 doanh nghiệp, giảm 45% so với cuối năm 2015.

Thống kê mới nhất từ Cục Quản lý cạnh tranh ( Bộ Công Thương ) cho thấy, giai đoạn cuối 2015 đến đầu năm 2016, có 67 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp .

Đến cuối tháng 3 năm 2017, số lượng doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã giảm 30 doanh nghiệp xuống còn 37 doanh nghiệp, giảm 45% so với cuối năm 2015. Trong số này, có 15 doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận, 12 doanh nghiệp chủ động chấm dứt hoạt động và 3 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động.

Theo số liệu báo cáo của 37 doanh nghiệp, tổng số lượng người tham gia bán hàng đa cấp tính đến cuối năm 2016 là 637.637 người, giảm 212.363 người (25%) so với cuối năm 2015.

Tổng doanh thu bán hàng đa cấp năm 2016 đạt khoảng 7.800 tỷ đồng, giảm khoảng 200 tỷ đồng so với năm 2015 (giảm 2,5%). Doanh thu bán hàng đa cấp chủ yếu đến từ thực phẩm chức năng (59%) và mỹ phẩm (24%). Doanh thu từ đồ gia dụng chiếm 6.6%, doanh thu từ quần áo thời trang chiếm 2%, doanh thu từ thiết bị chiếm 0.5%, còn lại 8.2% là các mặt hàng khác.

Tổng số hoa hồng và các lợi ích kinh tế mà các doanh nghiệp bán hàng đa cấp đã chi trả cho người tham gia bán hàng đa cấp đạt khoảng 2.400 tỷ đồng, chiếm khoảng 31% tổng doanh thu toàn ngành. Trong đó, giá trị khuyến mại quy đổi thành tiền đạt khoảng 44 tỷ đồng, chiếm khoảng 2% tổng giá trị hoa hồng, tiền thưởng và lợi ích kinh tế.

Báo cáo cũng cho thấy, lợi nhuận sau thuế của ngành chỉ đạt 177 tỷ, tương ứng 2.2% doanh thu. Trong tổng số 37 doanh nghiệp thực hiện báo cáo, chỉ có 11 doanh nghiệp đạt lợi nhuận dương. Một số doanh nghiệp có doanh thu rất cao nhưng tỷ lệ lợi nhuận trước thuế rất thấp (chỉ đạt từ 0.5% đến 3.8%). Tổng số thuế đã nộp về ngân sách nhà nước trong năm 2016 ước đạt 881 tỷ đồng.

Theo đó, Cục Quản lý cạnh tranh nhận xét, phản ứng của xã hội đối với các hành vi đa cấp bất chính hầu như không ảnh hưởng tới doanh thu toàn ngành.

Tổng số hoa hồng và các lợi ích kinh tế khác chi trả cho người tham gia bán hàng đa cấp đạt khoảng 2.400 tỷ đồng, tuy lớn về giá trị tuyệt đối nhưng nếu chia đều cho gần 640 ngàn người tham gia hệ thống thì thu nhập bình quân của người tham gia bán hàng đa cấp là rất không đáng kể, chỉ khoảng 3,8 triệu đồng/người/năm. Điều này cho thấy trong số gần 640 ngàn người tham gia bán hàng đa cấp, chỉ có một tỷ lệ nhỏ là người bán hàng. Số còn lại hầu như không tham gia bán hàng.

Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp bán hàng đa cấp là rất thấp, lợi nhuận sau thuế đạt trung bình 2,2%, có trên 50% doanh nghiệp báo cáo lỗ. Đóng góp thực sự của các doanh nghiệp cho ngân sách nhà nước là không đáng kể, chủ yếu đến từ thuế giá trị gia tăng do người tiêu dùng chi trả, không phải từ thuế thu nhập doanh nghiệp.

Theo Tâm An

BizLIVE

Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Bộ trưởng Công Thương nói gì về chọn cá hay thép?

"Thời gian qua, tôi cảm thấy rất bất ngờ khi thấy các ý kiến cứ nhắc đi nhắc lại chuyện chọn thép hay chọn cá. Chúng ta bằng mọi giá phải xóa đi nỗi ám ảnh của người dân về điều này. Chúng ta không đánh đổi cái gì cả".

Đây là vấn đề được Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đưa ra tại cuộc họp với lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc về vấn đề ô nhiễm môi trường diễn ra chiều 6-10. Tại cuộc họp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã yêu cầu các lãnh đạo tập đoàn báo cáo thực tế hiện trạng tại các dự án điện, than, xi măng, khoáng sản…

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đặt vấn đề: “Các đồng chí nghĩ gì khi đọc các bài bào phản ánh hiện trạng “14 nhà máy nhiệt điện vây đồng bằng sông Cửu Long” hay “Nhiệt điện than "bao vây" đồng bằng”. Cá nhân tôi thấy rất đau lòng. Là người đứng đầu các tập đoàn, tổng công ty lớn, các đồng chí đừng để người dân cứ nhắc đến nhiệt điện lại rùng mình coi đó là bệnh tật, là ô nhiễm là ung thư… chua xót lắm”.

Bộ trưởng Tuấn Anh yêu cầu các lãnh đạo tập đoàn, công ty phải đứng ra cam kết “không đánh đổi môi trường lấy dự án”. Đồng thời Bộ trưởng khẳng định sẽ kiên quyết đóng cửa những nhà máy, dự án nào có kết luận gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống dân sinh.

“Thời gian qua, tôi cảm thấy rất bất ngờ khi thấy các ý kiến cứ nhắc đi nhắc lại chuyện chọn thép hay chọn cá. Chúng ta bằng mọi giá phải xóa đi nỗi ám ảnh của người dân về điều này. Chúng ta không đánh đổi cái gì cả. Giữ môi trường cũng là giữ sự sống cho chúng ta và tương lai con cháu chúng ta sau này. Khi một số dự án mới chỉ là quy hoạch, từ khi quy hoạch đến lúc triển khai là cả một chặng đường dài có thể 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa.

Người dân bày tỏ lo ngại về công nghệ, về vấn nạn môi trường, điều này có phần trách nhiệm của chúng ta khi chưa giải thích, cung cấp thông tin đầy đủ cho người dân hiểu”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Bộ trưởng còn cho rằng, Formosa cần được coi là bài học để các đơn vị ngành tập đoàn, tổng công ty cần rà soát thận trọng một lần nữa các dự án, nhà máy của mình. Bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường được coi là tiêu chí hàng đầu cho phát triển bền vững.

“Đã đến lúc chúng ta cần nói thẳng, nói thật với nhau xem chúng ta còn bỏ sót quy trình nào, cái gì chưa hoàn thiện cần khắc phục ngay, tốn kém cũng phải làm. Sử dụng tài nguyên có hiệu quả nhưng không phải bằng mọi giá, không đánh đổi hay hủy hoại môi trường bởi đó là tội ác”- Ông nhấn mạnh.

Ông Trần Văn Lượng, Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp cho biết, qua kiểm tra một số dự án có thể thấy một số doanh nghiệp đã đi vào vận hành nhưng chưa có Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường như: Nhà máy Nhôm Lâm Đồng, Nhiệt điện Vũng Áng - PVN, Nhiệt điện Duyên Hải 1.

Một số doanh nghiệp chưa có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước như Nhiệt điện Duyên hải 1, Nhiệt điện Hải phòng, Cảng dịch vụ dầu khí tổng hợp (PTSC) Quảng Bình, PTSC Đà Nẵng, PTSC Dung Quất, Công ty TNHH MTV phân bón dầu khí Cà Mau - PVN, Nhà máy đóng tầu Dung Quất – PVN.

Theo ông Lượng, việc chậm xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường do nhiều nguyên nhân: Chủ đầu tư thuê tư vấn lập ĐTM không đủ năng lực, dẫn đến phát sinh nhiều thay đổi trong thực tế triển khai; Chủ đầu tư thay đổi các công trình bảo vệ môi trường mà chưa được sự chấp thuận; Sự phối hợp giữa Ban QLDA với đơn vị được giao vận hành thiếu chặt chẽ;…

Theo Trà Phương

Pháp luật TPHCM

"Không chỉ Việt Nam mới có cách tính 'kỳ cục' với bảo hiểm xã hội"

Đóng ít, hưởng nhiều và đầu tư quỹ chưa hiệu quả… là những nguyên nhân khiến cho Quỹ hưu trí, tử tuất có nguy cơ mất cân đối lớn trong tương lai không xa.

Theo nhiều phân tích của một số tổ chức quốc tế (như Tổ chức Lao động Quốc tế; Ngân hàng Thế giới) và các nghiên cứu viên độc lập, nếu Việt Nam vẫn giữ nguyên các quy định như hiện nay thì quỹ hưu trí có nguy cơ mất cân đối vào năm 2035 và sau đó có thể không còn tiền vào khoảng năm 2043.

Trao đổi với PGS. TS Giang Thanh Long, Viện trưởng Viện Chính sách Công và Quản lý (ĐH Kinh tế Quốc dân), ông cho biết là hiện các thông tin về mất cân đối và “vỡ quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH)” chưa được hiểu rộng rãi và chính xác.

Theo đó, Quỹ BHXH là quỹ chung với nhiều cấu phần, trong đó các cấu phần hưởng ngắn hạn như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp và các cấu phần dài hạn như hưu trí và tử tuất. Về mặt cân đối thì các quỹ ngắn hạn tương đối đảm bảo trong điều kiện hiện nay, nhưng nguy cơ mất cân đối quỹ chủ yếu là quỹ dài hạn, đó là cho hưu trí và tử tuất.

Ông nhấn mạnh “phải nói rõ nguy cơ mất cân đối quỹ là quỹ hưu trí, Tử tuất thì mới có những hướng đi đúng cho điều chỉnh chính sách”.

Mất cân đối đóng - hưởng có phải là nguyên nhân chính của mất cân đối quỹ?

Trong một lần phỏng vấn gần đây, ông Trần Huy Liệu, Phó TGĐ BHXH Việt Nam cho biết “Không ở nước nào đóng – hưởng lương hưu như Việt Nam khi chỉ đóng 26% nhưng lại được hưởng đến tận 75%”, như vậy là vô lý.

Đồng tình với quan điểm này, PGS Giang Thanh Long giải thích “Hiện nay tổng mức đóng của BHXH đang là 26% và khoảng 22% trong số đó là dành cho hưu trí và tử tuất. Tuy nhiên, lúc về hưu, người lao động có thể sẽ được tới 75%. Mức hưởng này được tính dựa trên số năm đóng góp.”

Ví dụ, như trước năm 2014, Luật quy định định 15 năm đầu được 3%, tức là được hưởng 45%. Mỗi năm tiếp theo được hưởng 2% đối với nam như vậy là 15 x 2% = 30%, cộng với mức 45% trước đó người lao động nam được hưởng 75% lương hưu. Còn đối với nữ, mức hưởng của các năm tiếp theo là 3%, như vậy cộng dồn lại mức hưởng lương hưu là 90%, vượt quá mức hưởng tối đa là 75% nên phần dôi ra sẽ tính hưởng một lần.

“Chính vì lý do đó mà trong Luật BHXH năm 2014 đã phải điều chỉnh giảm phần trăm hưởng xuống. Tuy nhiên, dù giảm xuống nhưng có thể nó vẫn cao hơn nhiều so với mức đóng như hiện nay nên khó tránh khỏi mất cân đối quỹ trong tương lai”, PGS Long cho biết.

Tuy nhiên, ông Long cũng cho biết thêm không phải chỉ có Việt Nam mới có cách tính “kỳ cục” này vì “nhiều nước trên thế giới cũng đã từng như vậy, nhưng họ đã thay đổi cách tính toán cũng như thiết kế lại cách đóng-hưởng. Việt Nam cũng cần phải dần chuyển đổi để thích ứng với tình hình, đặc biệt trong bối cảnh dân số ngày càng già”.

Dù vậy, ông Long nhấn mạnh là dù điều chỉnh như thế nào cũng phải đảm bảo được đời sống cho người về hưu hay không bởi “cắt giảm là chuyện đơn giản, nhưng cắt tới mức mà người về hưu không sống nổi bằng lương hưu thì lại là vấn đề kinh tế-xã hội và chính trị rất lớn”.

Một vấn đề khác cũng được dư luận nói tới là bất công bằng trong mức hưởng lương hưu giữa khu vực công với khu vực tư. Tuy nhiên, PGS Long giải thích rằng việc áp dụng Luật BHXH năm 2014 đang thể hiện rằng những sự khác biệt đó dần được xoá bỏ giữa hai khu vực này như cách tính mức hưởng, cách tính mức lương cơ sở để tính lương hưu, đặc biệt từ 2025 trở đi.

Nâng tuổi về hưu là điều tất yếu!

Để giải quyết tình trạng này, PGS Long cho rằng việc nâng tuổi nghỉ hưu là điều tất yếu. Tuy nhiên, ông chỉ ra hai vấn đề là khi nào tăng và tăng như thế nào. Lấy ví dụ về Thuỵ Điển, ông cho biết, để tăng thêm được 3 năm làm việc của người lao động (từ 65 lên 68), Thuỵ Điển đã mất 12 năm, tức là trung bình cứ 4 năm mới nâng được 1 tuổi, chứ họ không nâng một lần như một số khuyến nghị cho Việt Nam.

Vấn đề thứ hai là nâng tuổi hưu lên mức nào? Ví dụ, ở Việt Nam là nâng tuổi hưu cho nam lao động từ 60 tuổi lên 62 hay như các nước khác là 65 hoặc hơn và cho nữ lao động từ 55 thành 60 luôn hay phải qua các bậc tuổi 57, 58…? Ông Long đặt ra câu hỏi.

Theo ông, dù nâng như thế nào thì các cơ quan quản lý cũng cần căn cứ vào tuổi thọ mà cụ thể là tuổi thọ khoẻ mạnh của dân số.

“Tuổi thọ khoẻ mạnh được tính bằng tuổi thọ trừ đi số năm đau ốm trung bình. Báo cáo quốc tế cho thấy dù tuổi thọ của Việt Nam tăng lên, nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh của người Việt lại thay đổi ít, trong khi các nước khác như Malaysia, Thái Lan có tuổi thọ tương đương Việt Nam nhưng tuổi thọ trung bình của họ lại cao hơn” ông Long nói.

Do vậy, nếu người lao động không đủ sức lao động sau ngưỡng tuổi nào đó thì việc tăng tuổi hưu sẽ không hiệu quả vì năng suất lao động không đủ bù đắp cho chi phí tiền công, tiền lương… cũng như chăm sóc ốm đau; Nói cách khác, xét trên góc độ kinh tế thì nâng tuổi hưu như thế hoàn toàn không có lợi.

Ông Long cũng nói thêm rằng, đã có nghiên cứu chứng minh rằng việc nâng tuổi hưu không ảnh hưởng tới việc làm của thanh niên như dư luận lo lắng và điều này cũng được chứng minh ở nhiều nước khác (như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản…)

Cũng theo ông Long, ngoài việc nâng tuổi lao động, cần gắn liền với tăng hiệu quả đầu tư bởi theo quy định của Luật hiện nay thì danh mục đầu tư còn khá hẹp và chỉ có đầu tư trong nước.

“Phân tích của Ngân hàng Thế giới cách đây vài năm đã chỉ ra rằng lãi suất thu hồi trung bình của quỹ BHXH còn chưa cao. Đây là vấn đề cần cân nhắc thêm để đa dạng hoá đầu tư, nâng cao lợi suất bởi đây là nguồn không nhỏ để đảm bảo sự cân đối của Quỹ trong thời gian dài hơn”, ông Long nhận định.

“Về việc này, Hàn Quốc đang làm rất tốt. Họ đầu tư quỹ NPS (National Pension System) ở nhiều danh mục và các khoản đầu tư này được thực hiện bởi nhóm các nhà đầu tư chuyên nghiệp và có kinh nghiệm quốc tế. Họ đầu tư trong và cả ngoài nước hiệu quả và có lợi suất cao. Việt Nam có thể học hỏi mô hình này trong tương lai”, PGS. TS Giang Thanh Long cho biết.

Đình Phương

Theo InfoNet

Formosa muốn tự nhập than để phát điện

Formosa nêu 2 lý do cho việc tự nhập khẩu than vào Việt Nam để phát điện: than trong nước không phù hợp và doanh nghiệp đã có kinh nghiệm nhập khẩu.

Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa (Formosa) vừa có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan cho phép doanh nghiệp này trực tiếp nhập khẩu than phục vụ cho nhà máy nhiệt điện tại KCN Nhơn Trạch 3, tỉnh Đồng Nai.

Doanh nghiệp cho biết từ khi đầu tư vào KCN Nhơn Trạch, Formosa đã xin phép các cơ quan Chính phủ cho phép doanh nghiệp được nhập khẩu than sử dụng cho nhà máy điện Đồng Nai do than trong nước có chất bốc thấp, không phù hợp với thiết bị công nghệ của Formosa. Đề nghị này đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ ngành liên quan báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên ngày 2-9-2016, Chi cục Hải quan Nhơn Trach đã hướng dẫn cho Formosa thực hiện các thủ tục nhập than. Theo đó, Formosa phải ký hợp đồng nguyên tắc với Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng Công ty Than Đông Bắc. Đây là hai DN đầu mối chính vẫn nhập than vào Việt Nam.

Formosa cho rằng việc nhập than về sử dụng cho nhà máy nhiệt điện của công ty này là hợp lý, được sự đồng thuận và phù hợp theo các văn bản của bộ ngành Việt Nam hiện nay.

Chỉ các doanh nghiệp chưa nhập khẩu than đá thì mới tìm ký hợp đồng với hai doanh nghiệp nói trên để tìm nguồn cung ổn định, chất lượng và giá cả phù hợp. Còn với Formosa đã có nhiều năm kinh nghiệm nhập khẩu, nguồn cung ổn định, chất lượng tốt và giá cả phù hợp rồi, Formosa không cần thiết phải ký kết với TKV và Tổng công ty than Đông Bắc.

Theo T.Hà

Người lao động

Hà Nội xây nhà máy xử lý nước thải 16.200 tỉ đồng

Sáng 7/10, thành phố Hà Nội khởi công xây dựng nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì) với tổng vốn đầu tư 16.200 tỉ đồng.

Quy mô xây dựng dự án bao gồm: nhà máy xử lý nước thải công suất 270.000 m3/ngày đêm và hệ thống thu gom, cống bao, hệ thống cống đấu nối (dọc hai bờ sông Tô Lịch, sông Lừ) và một phần sông Nhuệ với tổng chiều dài cống các loại khoảng 52 km.

Phần lớn hệ thống cống thu gom sẽ được thi công bằng công nghệ khoan kích ngầm, phương pháp này sẽ giúp tránh được việc vận hành phức tạp của các trạm bơm, quỹ đất yêu cầu nhỏ hơn.

Đặc biệt việc thi công cống được thực hiện dưới các dải cây xanh và dưới lòng sông, làm giảm ảnh hưởng xấu của hoạt động thi công lên hệ thống hạ tầng giao thông, hạn chế tác động tới môi trường và cư dân xung quanh.

Theo UBND thành phố Hà Nội, sau khi hoàn thành, nhà máy xử lý nước thải Yên Xá và hệ thống thu gom sẽ đưa toàn bộ nước thải của các quận Ba Đình, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Hoàng Mai, Hà Đông và huyện Thanh Trì về nhà máy xử lý.

Lãnh đạo Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, đây là lần đầu tiên, Thủ đô có một dự án xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải tập trung quy mô lớn với công suất 270.000 m3/ngày đêm.

Dự án kể trên sử dụng vốn ODA của Nhật Bản (JICA).

“Tổng mức đầu tư của dự án là 16.200 tỉ đồng, trong đó vốn ODA của Nhật Bản là 85%, vốn đối ứng của thành phố Hà Nội là 15%”-ông Phạm Văn Cường, giám đốc Ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội, đơn vị đại diện chủ đầu tư cho hay.

Với công suất 270.000 m3/ngày đêm, dự án xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải Yên Xá được kỳ vọng làm “sống lại” các con sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và một phần sông Nhuệ.

Phát biểu tại lễ khởi công, ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, dự án hệ thống xử lý nước thải Yên Xá là công trình trọng điểm, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc cải tạo môi trường, làm “sống lại” các con sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và một phần sông Nhuệ, góp phần tạo cảnh quan, sinh thái đô thị, phát triển bền vững Thủ đô.

Theo ông Chung, từ trước đến nay, nước thải của thành phố được thu gom bởi hệ thống cống, kênh mương rồi xả ra các hồ và bốn con sông thoát nước chính là sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Tô Lịch và sông Lừ. Vì vậy, nhiều kênh mương, sông, hồ trên địa bàn bị ô nhiễm nặng, tác động xấu tới điều kiện vệ sinh, điều kiện sống của người dân.

Trước đó, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết dự án nước thải Yên Xá thay vì hoàn thành năm 2021, nhưng sau đàm phán và thực hiện hàng loạt giải pháp rút ngắn tiến độ thi công, dự án này đã rút ngắn thời gian thi công được 2 năm, hoàn thành năm 2019.

Theo ông Chung, ban đầu các nhà đầu tư Nhật Bản yêu cầu tiến độ đến cuối năm 2021 mới hoàn thành. Tuy nhiên, ông Chung cho biết qua đàm phán và làm việc với các nhà tư vấn thiết kế, phía chủ đầu tư và các đơn vị thi công đã rút ngắn được thời gian thực hiện dự án 2 năm.

“Thay vì dự án hoàn thành vào năm 2021 thì sẽ hoàn thành vào năm 2019, qua đó tiết kiệm được 40 triệu USD”-ông Chung cho hay.

Chi tiết hơn, ông Lê Văn Dục, giám đốc Sở Xây dựng cho biết dự án này sẽ hoàn thành vào tháng 10-2019.

“Tiến độ dự án nhanh hơn vì thành phố đã có kinh nghiệm từ dự án thoát nước giai đoạn 2 của Jica và cũng không vướng các thủ tục giải phóng mặt bằng nữa”-ông Dục nói.

Theo ông Dục, kinh phí tiết kiệm được ngoài rút ngắn tiến độ thi công 2 năm còn có các khoản qua tiết kiệm từ chi phí tư vấn nước ngoài, chi phí quản lý dự án và cải tiến biện pháp thi công.

Theo Xuân Long

Tuổi trẻ