Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Bộ trưởng Công Thương nói gì về chọn cá hay thép?

"Thời gian qua, tôi cảm thấy rất bất ngờ khi thấy các ý kiến cứ nhắc đi nhắc lại chuyện chọn thép hay chọn cá. Chúng ta bằng mọi giá phải xóa đi nỗi ám ảnh của người dân về điều này. Chúng ta không đánh đổi cái gì cả".

Đây là vấn đề được Bộ trưởng Công Thương Trần Tuấn Anh đưa ra tại cuộc họp với lãnh đạo các tập đoàn, tổng công ty trực thuộc về vấn đề ô nhiễm môi trường diễn ra chiều 6-10. Tại cuộc họp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đã yêu cầu các lãnh đạo tập đoàn báo cáo thực tế hiện trạng tại các dự án điện, than, xi măng, khoáng sản…

Mở đầu cuộc họp, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh đặt vấn đề: “Các đồng chí nghĩ gì khi đọc các bài bào phản ánh hiện trạng “14 nhà máy nhiệt điện vây đồng bằng sông Cửu Long” hay “Nhiệt điện than "bao vây" đồng bằng”. Cá nhân tôi thấy rất đau lòng. Là người đứng đầu các tập đoàn, tổng công ty lớn, các đồng chí đừng để người dân cứ nhắc đến nhiệt điện lại rùng mình coi đó là bệnh tật, là ô nhiễm là ung thư… chua xót lắm”.

Bộ trưởng Tuấn Anh yêu cầu các lãnh đạo tập đoàn, công ty phải đứng ra cam kết “không đánh đổi môi trường lấy dự án”. Đồng thời Bộ trưởng khẳng định sẽ kiên quyết đóng cửa những nhà máy, dự án nào có kết luận gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến đời sống dân sinh.

“Thời gian qua, tôi cảm thấy rất bất ngờ khi thấy các ý kiến cứ nhắc đi nhắc lại chuyện chọn thép hay chọn cá. Chúng ta bằng mọi giá phải xóa đi nỗi ám ảnh của người dân về điều này. Chúng ta không đánh đổi cái gì cả. Giữ môi trường cũng là giữ sự sống cho chúng ta và tương lai con cháu chúng ta sau này. Khi một số dự án mới chỉ là quy hoạch, từ khi quy hoạch đến lúc triển khai là cả một chặng đường dài có thể 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa.

Người dân bày tỏ lo ngại về công nghệ, về vấn nạn môi trường, điều này có phần trách nhiệm của chúng ta khi chưa giải thích, cung cấp thông tin đầy đủ cho người dân hiểu”, Bộ trưởng Trần Tuấn Anh nhấn mạnh.

Bộ trưởng còn cho rằng, Formosa cần được coi là bài học để các đơn vị ngành tập đoàn, tổng công ty cần rà soát thận trọng một lần nữa các dự án, nhà máy của mình. Bảo vệ môi trường sống, giảm thiểu ô nhiễm môi trường được coi là tiêu chí hàng đầu cho phát triển bền vững.

“Đã đến lúc chúng ta cần nói thẳng, nói thật với nhau xem chúng ta còn bỏ sót quy trình nào, cái gì chưa hoàn thiện cần khắc phục ngay, tốn kém cũng phải làm. Sử dụng tài nguyên có hiệu quả nhưng không phải bằng mọi giá, không đánh đổi hay hủy hoại môi trường bởi đó là tội ác”- Ông nhấn mạnh.

Ông Trần Văn Lượng, Cục trưởng Cục Kỹ thuật an toàn và Môi trường công nghiệp cho biết, qua kiểm tra một số dự án có thể thấy một số doanh nghiệp đã đi vào vận hành nhưng chưa có Giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường như: Nhà máy Nhôm Lâm Đồng, Nhiệt điện Vũng Áng - PVN, Nhiệt điện Duyên Hải 1.

Một số doanh nghiệp chưa có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước như Nhiệt điện Duyên hải 1, Nhiệt điện Hải phòng, Cảng dịch vụ dầu khí tổng hợp (PTSC) Quảng Bình, PTSC Đà Nẵng, PTSC Dung Quất, Công ty TNHH MTV phân bón dầu khí Cà Mau - PVN, Nhà máy đóng tầu Dung Quất – PVN.

Theo ông Lượng, việc chậm xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường do nhiều nguyên nhân: Chủ đầu tư thuê tư vấn lập ĐTM không đủ năng lực, dẫn đến phát sinh nhiều thay đổi trong thực tế triển khai; Chủ đầu tư thay đổi các công trình bảo vệ môi trường mà chưa được sự chấp thuận; Sự phối hợp giữa Ban QLDA với đơn vị được giao vận hành thiếu chặt chẽ;…

Theo Trà Phương

Pháp luật TPHCM

"Không chỉ Việt Nam mới có cách tính 'kỳ cục' với bảo hiểm xã hội"

Đóng ít, hưởng nhiều và đầu tư quỹ chưa hiệu quả… là những nguyên nhân khiến cho Quỹ hưu trí, tử tuất có nguy cơ mất cân đối lớn trong tương lai không xa.

Theo nhiều phân tích của một số tổ chức quốc tế (như Tổ chức Lao động Quốc tế; Ngân hàng Thế giới) và các nghiên cứu viên độc lập, nếu Việt Nam vẫn giữ nguyên các quy định như hiện nay thì quỹ hưu trí có nguy cơ mất cân đối vào năm 2035 và sau đó có thể không còn tiền vào khoảng năm 2043.

Trao đổi với PGS. TS Giang Thanh Long, Viện trưởng Viện Chính sách Công và Quản lý (ĐH Kinh tế Quốc dân), ông cho biết là hiện các thông tin về mất cân đối và “vỡ quỹ Bảo hiểm xã hội (BHXH)” chưa được hiểu rộng rãi và chính xác.

Theo đó, Quỹ BHXH là quỹ chung với nhiều cấu phần, trong đó các cấu phần hưởng ngắn hạn như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp và các cấu phần dài hạn như hưu trí và tử tuất. Về mặt cân đối thì các quỹ ngắn hạn tương đối đảm bảo trong điều kiện hiện nay, nhưng nguy cơ mất cân đối quỹ chủ yếu là quỹ dài hạn, đó là cho hưu trí và tử tuất.

Ông nhấn mạnh “phải nói rõ nguy cơ mất cân đối quỹ là quỹ hưu trí, Tử tuất thì mới có những hướng đi đúng cho điều chỉnh chính sách”.

Mất cân đối đóng - hưởng có phải là nguyên nhân chính của mất cân đối quỹ?

Trong một lần phỏng vấn gần đây, ông Trần Huy Liệu, Phó TGĐ BHXH Việt Nam cho biết “Không ở nước nào đóng – hưởng lương hưu như Việt Nam khi chỉ đóng 26% nhưng lại được hưởng đến tận 75%”, như vậy là vô lý.

Đồng tình với quan điểm này, PGS Giang Thanh Long giải thích “Hiện nay tổng mức đóng của BHXH đang là 26% và khoảng 22% trong số đó là dành cho hưu trí và tử tuất. Tuy nhiên, lúc về hưu, người lao động có thể sẽ được tới 75%. Mức hưởng này được tính dựa trên số năm đóng góp.”

Ví dụ, như trước năm 2014, Luật quy định định 15 năm đầu được 3%, tức là được hưởng 45%. Mỗi năm tiếp theo được hưởng 2% đối với nam như vậy là 15 x 2% = 30%, cộng với mức 45% trước đó người lao động nam được hưởng 75% lương hưu. Còn đối với nữ, mức hưởng của các năm tiếp theo là 3%, như vậy cộng dồn lại mức hưởng lương hưu là 90%, vượt quá mức hưởng tối đa là 75% nên phần dôi ra sẽ tính hưởng một lần.

“Chính vì lý do đó mà trong Luật BHXH năm 2014 đã phải điều chỉnh giảm phần trăm hưởng xuống. Tuy nhiên, dù giảm xuống nhưng có thể nó vẫn cao hơn nhiều so với mức đóng như hiện nay nên khó tránh khỏi mất cân đối quỹ trong tương lai”, PGS Long cho biết.

Tuy nhiên, ông Long cũng cho biết thêm không phải chỉ có Việt Nam mới có cách tính “kỳ cục” này vì “nhiều nước trên thế giới cũng đã từng như vậy, nhưng họ đã thay đổi cách tính toán cũng như thiết kế lại cách đóng-hưởng. Việt Nam cũng cần phải dần chuyển đổi để thích ứng với tình hình, đặc biệt trong bối cảnh dân số ngày càng già”.

Dù vậy, ông Long nhấn mạnh là dù điều chỉnh như thế nào cũng phải đảm bảo được đời sống cho người về hưu hay không bởi “cắt giảm là chuyện đơn giản, nhưng cắt tới mức mà người về hưu không sống nổi bằng lương hưu thì lại là vấn đề kinh tế-xã hội và chính trị rất lớn”.

Một vấn đề khác cũng được dư luận nói tới là bất công bằng trong mức hưởng lương hưu giữa khu vực công với khu vực tư. Tuy nhiên, PGS Long giải thích rằng việc áp dụng Luật BHXH năm 2014 đang thể hiện rằng những sự khác biệt đó dần được xoá bỏ giữa hai khu vực này như cách tính mức hưởng, cách tính mức lương cơ sở để tính lương hưu, đặc biệt từ 2025 trở đi.

Nâng tuổi về hưu là điều tất yếu!

Để giải quyết tình trạng này, PGS Long cho rằng việc nâng tuổi nghỉ hưu là điều tất yếu. Tuy nhiên, ông chỉ ra hai vấn đề là khi nào tăng và tăng như thế nào. Lấy ví dụ về Thuỵ Điển, ông cho biết, để tăng thêm được 3 năm làm việc của người lao động (từ 65 lên 68), Thuỵ Điển đã mất 12 năm, tức là trung bình cứ 4 năm mới nâng được 1 tuổi, chứ họ không nâng một lần như một số khuyến nghị cho Việt Nam.

Vấn đề thứ hai là nâng tuổi hưu lên mức nào? Ví dụ, ở Việt Nam là nâng tuổi hưu cho nam lao động từ 60 tuổi lên 62 hay như các nước khác là 65 hoặc hơn và cho nữ lao động từ 55 thành 60 luôn hay phải qua các bậc tuổi 57, 58…? Ông Long đặt ra câu hỏi.

Theo ông, dù nâng như thế nào thì các cơ quan quản lý cũng cần căn cứ vào tuổi thọ mà cụ thể là tuổi thọ khoẻ mạnh của dân số.

“Tuổi thọ khoẻ mạnh được tính bằng tuổi thọ trừ đi số năm đau ốm trung bình. Báo cáo quốc tế cho thấy dù tuổi thọ của Việt Nam tăng lên, nhưng tuổi thọ khoẻ mạnh của người Việt lại thay đổi ít, trong khi các nước khác như Malaysia, Thái Lan có tuổi thọ tương đương Việt Nam nhưng tuổi thọ trung bình của họ lại cao hơn” ông Long nói.

Do vậy, nếu người lao động không đủ sức lao động sau ngưỡng tuổi nào đó thì việc tăng tuổi hưu sẽ không hiệu quả vì năng suất lao động không đủ bù đắp cho chi phí tiền công, tiền lương… cũng như chăm sóc ốm đau; Nói cách khác, xét trên góc độ kinh tế thì nâng tuổi hưu như thế hoàn toàn không có lợi.

Ông Long cũng nói thêm rằng, đã có nghiên cứu chứng minh rằng việc nâng tuổi hưu không ảnh hưởng tới việc làm của thanh niên như dư luận lo lắng và điều này cũng được chứng minh ở nhiều nước khác (như Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản…)

Cũng theo ông Long, ngoài việc nâng tuổi lao động, cần gắn liền với tăng hiệu quả đầu tư bởi theo quy định của Luật hiện nay thì danh mục đầu tư còn khá hẹp và chỉ có đầu tư trong nước.

“Phân tích của Ngân hàng Thế giới cách đây vài năm đã chỉ ra rằng lãi suất thu hồi trung bình của quỹ BHXH còn chưa cao. Đây là vấn đề cần cân nhắc thêm để đa dạng hoá đầu tư, nâng cao lợi suất bởi đây là nguồn không nhỏ để đảm bảo sự cân đối của Quỹ trong thời gian dài hơn”, ông Long nhận định.

“Về việc này, Hàn Quốc đang làm rất tốt. Họ đầu tư quỹ NPS (National Pension System) ở nhiều danh mục và các khoản đầu tư này được thực hiện bởi nhóm các nhà đầu tư chuyên nghiệp và có kinh nghiệm quốc tế. Họ đầu tư trong và cả ngoài nước hiệu quả và có lợi suất cao. Việt Nam có thể học hỏi mô hình này trong tương lai”, PGS. TS Giang Thanh Long cho biết.

Đình Phương

Theo InfoNet

Formosa muốn tự nhập than để phát điện

Formosa nêu 2 lý do cho việc tự nhập khẩu than vào Việt Nam để phát điện: than trong nước không phù hợp và doanh nghiệp đã có kinh nghiệm nhập khẩu.

Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa (Formosa) vừa có văn bản đề nghị Tổng cục Hải quan cho phép doanh nghiệp này trực tiếp nhập khẩu than phục vụ cho nhà máy nhiệt điện tại KCN Nhơn Trạch 3, tỉnh Đồng Nai.

Doanh nghiệp cho biết từ khi đầu tư vào KCN Nhơn Trạch, Formosa đã xin phép các cơ quan Chính phủ cho phép doanh nghiệp được nhập khẩu than sử dụng cho nhà máy điện Đồng Nai do than trong nước có chất bốc thấp, không phù hợp với thiết bị công nghệ của Formosa. Đề nghị này đã được Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các bộ ngành liên quan báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ.

Tuy nhiên ngày 2-9-2016, Chi cục Hải quan Nhơn Trach đã hướng dẫn cho Formosa thực hiện các thủ tục nhập than. Theo đó, Formosa phải ký hợp đồng nguyên tắc với Tập đoàn Than và khoáng sản Việt Nam (TKV), Tổng Công ty Than Đông Bắc. Đây là hai DN đầu mối chính vẫn nhập than vào Việt Nam.

Formosa cho rằng việc nhập than về sử dụng cho nhà máy nhiệt điện của công ty này là hợp lý, được sự đồng thuận và phù hợp theo các văn bản của bộ ngành Việt Nam hiện nay.

Chỉ các doanh nghiệp chưa nhập khẩu than đá thì mới tìm ký hợp đồng với hai doanh nghiệp nói trên để tìm nguồn cung ổn định, chất lượng và giá cả phù hợp. Còn với Formosa đã có nhiều năm kinh nghiệm nhập khẩu, nguồn cung ổn định, chất lượng tốt và giá cả phù hợp rồi, Formosa không cần thiết phải ký kết với TKV và Tổng công ty than Đông Bắc.

Theo T.Hà

Người lao động

Hà Nội xây nhà máy xử lý nước thải 16.200 tỉ đồng

Sáng 7/10, thành phố Hà Nội khởi công xây dựng nhà máy xử lý nước thải Yên Xá (xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì) với tổng vốn đầu tư 16.200 tỉ đồng.

Quy mô xây dựng dự án bao gồm: nhà máy xử lý nước thải công suất 270.000 m3/ngày đêm và hệ thống thu gom, cống bao, hệ thống cống đấu nối (dọc hai bờ sông Tô Lịch, sông Lừ) và một phần sông Nhuệ với tổng chiều dài cống các loại khoảng 52 km.

Phần lớn hệ thống cống thu gom sẽ được thi công bằng công nghệ khoan kích ngầm, phương pháp này sẽ giúp tránh được việc vận hành phức tạp của các trạm bơm, quỹ đất yêu cầu nhỏ hơn.

Đặc biệt việc thi công cống được thực hiện dưới các dải cây xanh và dưới lòng sông, làm giảm ảnh hưởng xấu của hoạt động thi công lên hệ thống hạ tầng giao thông, hạn chế tác động tới môi trường và cư dân xung quanh.

Theo UBND thành phố Hà Nội, sau khi hoàn thành, nhà máy xử lý nước thải Yên Xá và hệ thống thu gom sẽ đưa toàn bộ nước thải của các quận Ba Đình, Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Hoàng Mai, Hà Đông và huyện Thanh Trì về nhà máy xử lý.

Lãnh đạo Sở Xây dựng Hà Nội cho biết, đây là lần đầu tiên, Thủ đô có một dự án xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải tập trung quy mô lớn với công suất 270.000 m3/ngày đêm.

Dự án kể trên sử dụng vốn ODA của Nhật Bản (JICA).

“Tổng mức đầu tư của dự án là 16.200 tỉ đồng, trong đó vốn ODA của Nhật Bản là 85%, vốn đối ứng của thành phố Hà Nội là 15%”-ông Phạm Văn Cường, giám đốc Ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội, đơn vị đại diện chủ đầu tư cho hay.

Với công suất 270.000 m3/ngày đêm, dự án xây dựng hệ thống thu gom và nhà máy xử lý nước thải Yên Xá được kỳ vọng làm “sống lại” các con sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và một phần sông Nhuệ.

Phát biểu tại lễ khởi công, ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết, dự án hệ thống xử lý nước thải Yên Xá là công trình trọng điểm, có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc cải tạo môi trường, làm “sống lại” các con sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và một phần sông Nhuệ, góp phần tạo cảnh quan, sinh thái đô thị, phát triển bền vững Thủ đô.

Theo ông Chung, từ trước đến nay, nước thải của thành phố được thu gom bởi hệ thống cống, kênh mương rồi xả ra các hồ và bốn con sông thoát nước chính là sông Kim Ngưu, sông Sét, sông Tô Lịch và sông Lừ. Vì vậy, nhiều kênh mương, sông, hồ trên địa bàn bị ô nhiễm nặng, tác động xấu tới điều kiện vệ sinh, điều kiện sống của người dân.

Trước đó, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung cho biết dự án nước thải Yên Xá thay vì hoàn thành năm 2021, nhưng sau đàm phán và thực hiện hàng loạt giải pháp rút ngắn tiến độ thi công, dự án này đã rút ngắn thời gian thi công được 2 năm, hoàn thành năm 2019.

Theo ông Chung, ban đầu các nhà đầu tư Nhật Bản yêu cầu tiến độ đến cuối năm 2021 mới hoàn thành. Tuy nhiên, ông Chung cho biết qua đàm phán và làm việc với các nhà tư vấn thiết kế, phía chủ đầu tư và các đơn vị thi công đã rút ngắn được thời gian thực hiện dự án 2 năm.

“Thay vì dự án hoàn thành vào năm 2021 thì sẽ hoàn thành vào năm 2019, qua đó tiết kiệm được 40 triệu USD”-ông Chung cho hay.

Chi tiết hơn, ông Lê Văn Dục, giám đốc Sở Xây dựng cho biết dự án này sẽ hoàn thành vào tháng 10-2019.

“Tiến độ dự án nhanh hơn vì thành phố đã có kinh nghiệm từ dự án thoát nước giai đoạn 2 của Jica và cũng không vướng các thủ tục giải phóng mặt bằng nữa”-ông Dục nói.

Theo ông Dục, kinh phí tiết kiệm được ngoài rút ngắn tiến độ thi công 2 năm còn có các khoản qua tiết kiệm từ chi phí tư vấn nước ngoài, chi phí quản lý dự án và cải tiến biện pháp thi công.

Theo Xuân Long

Tuổi trẻ

Thị trường khổng lồ 2.200 tỷ USD, doanh nghiệp Việt làm gì để vượt qua các ràn cản?

Các nước thuộc Liên minh Kinh tế Á-Âu được xem là thị trường xuất khẩu mới mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhắm đến. Nhưng làm thế nào để tiếp cận thị trường có quy mô 2.200 tỷ USD, với 183 triệu người tiêu dùng sẽ là bài toán cho không ít doanh nghiệp xuất khẩu.

Sẽ không phải là một thị trường quá xa với doanh nghiệp theo nhìn nhận của các đại diện Đại sứ quán đến từ Liên minh Kinh tế Á – Âu (bao gồm các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan).

Từ con số kim ngạch thương mại hai chiều hiện ở mức 4 tỷ USD, lên tới 10 – 12 tỷ USD đến năm 2020 là một con số được xem là khá tham vọng. Tuy nhiên, đại diện các cơ quan chức năng của cả Việt Nam và các nước thuộc Liên minh đều cho rằng, hoàn toàn có khả năng đạt được khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Kinh tế Á Âu (EAEU) chính thức có hiệu lực vào ngày 5/10 vừa qua.

Trao đổi với chúng tôi, ông Đặng Hoàng Hải, Vụ trưởng Vụ thị trường châu Âu (Bộ Công Thương) cho biết với Hiệp định này thì nhiều ngành hàng xuất khẩu có thế mạnh của Việt Nam như dệt may, da giày, thủy hải sản, nông sản, linh phụ kiện… sẽ có nhiều cơ hội hơn.

Thị trường trong tầm tay

Theo cam kết, Hiệp định sẽ giảm hoặc đưa về 0% gần như 90% mức thuế xuất hải quan nhập khẩu. Trong đó có 59% được giảm thuế ngay sau khi hiệp định bắt đầu có hiệu lực và 30% được giảm thuế trong giai đoạn chuyển tiếp đối với khoảng 10.000 hàng hóa.

Từ trước đến nay, các nước thuộc Liên minh Kinh tế Á – Âu không phải là thị trường xuất khẩu truyền thống cho các DN Việt Nam. Những rào cản về vị trí địa lý, rủi ro về thanh toán và những yêu cầu chặt chẽ về tiêu chuẩn kỹ thuật được đặt ra cho các sản phẩm hàng nhập khẩu, đặc biệt là hàng thực phẩm, nông thủy sản… đã khiến cho không ít DN xuất khẩu Việt Nam nản lòng khi thâm nhập vào thị trường này.

Tuy nhiên, theo các Đại sứ quán các nước thuộc Liên minh Kinh tế Á – Âu thì những rào cản này đang dần được dỡ bỏ khi FTA EAEU có hiệu lực. Theo Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Cộng hòa Ca-dắc-xtan, vừa qua lãnh đạo một công ty đường sắt của nước này đã khảo sát ga Đồng Đăng và Tân Cảng và có đề xuất Bộ Giao thông Vận tải, Tổng công ty đường sắt xem xét khả năng tổ chức vận chuyển hàng hóa quá cảnh từ Việt Nam sang các nước Liên minh Kinh tế Á-Âu và ngược lại bằng container thông qua các ga giáp biên giới Việt Nam-Trung Quốc quá cảnh địa phận Trung Quốc.

Hoặc có thể vận chuyển từ các cảng biển Việt Nam tới bến cảng Ca-dắc-xtan thuộc cảng biển Liên Vân Cảng (Trung Quốc), nơi 49% cổ phần cảng biển thuộc về công ty đường sắt Ca-dắc-xtan. Từ đó, sẽ vận chuyển hàng hóa từ Trung Quốc tới Ca-dắc-xtan và các nước thành viên Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Đối với những vướng mắt trong thủ tục hải quan, Đại sứ CH Belarus tại Việt Nam – ông Goshin V.A. cho biết một trong những mục đích chính của việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do là đơn giản hóa và tăng tốc độ thực hiện các thủ tục hải quan trong công tác xuất nhập khẩu hàng hóa, giảm thiểu các chi phí tạm thời và giá thành trong thương mại song phương. Nghĩa là không chỉ giảm thiểu hay bãi bỏ thuế hải quan mà còn giảm tối đa các chi phí cho cán bộ kinh tế đối ngoại khi thực hiện công tác thông quan.

Các rào cản đang dần được gỡ

Đáng chú ý là những hàng hóa đã được xuất trước khi Hiệp định có hiệu lực và hiện đang trên đường vận chuyển hay nằm trong kho bãi cũng được hưởng các định mức mới theo Hiệp định, tức là những hàng hóa đó có thể được miễn hoàn toàn hay được giảm thuế hải quan một phần theo quy định.

Đại diện Thương mại Nga tại Việt Nam - ông Kharinov V. N. thì cho rằng những cam kết được đưa ra sẽ là lợi thế, giúp cho các Dn tiếp cận được người tiêu dùng cuối cùng. Trong khi DN Việt Nam có lợi thế về hàng nông sản như trái cây, các sản phẩm ngành công nghiệp nhẹ, đồ da, thiết bị điện tử; thì DN thuộc Liên minh sẽ đưa các sản phẩm thịt sữa, lúa mỳ, bột mỳ, ngũ cốc, phân bón, dầu lửa và các sản phẩm từ dầu lửa, xe tải, lốp xe, thép, các loại đường ống, các sản phẩm ngành chế tạo máy vào Việt Nam.

Theo Vụ trưởng Vụ thị trường châu Âu, những rào cản xuất khẩu vào Liên minh Kinh tế Á – Âu đang dần được tháo gỡ. Đơn cử như thời gian vận tải sang Nga mất khoảng 80 ngày nhưng hiện đã có chuyến hàng chỉ mất 20 ngày. Còn về hỗ trợ thanh toán, khi Hiệp định có hiệu lực thì cả hai nước đều có hỗ trợ thanh toán bằng đồng nội tệ, đều mang lại lợi ích cho cả hai bên.

Với khó khăn về hàng rào kỹ thuật là rào cản lớn, song những nỗ lực của Chính phủ đã được cải thiện nhiều khi đặt vấn đề thẳng thắn về hàng rào, với lộ trình rõ ràng là thống nhất gỡ bỏ các hàng rào, tập trung cho hàng nông sản.

N. An

Theo Trí thức trẻ

50% dòng vốn đầu tư FDI vào Việt Nam đến từ thiên đường thuế

Dù Việt Nam thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài song thực chất số tiền thuế thu về không lớn. Trong đó, một số địa danh đầu tư lớn nhất vào Việt Nam như Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, quần đảo British Virgin... đều là những thiên đường thuế.

Thông tin trên được chuyên gia của Oxfam đưa ra tại hội thảo về Thuế và Bất bình đẳng diễn ra chiều ngày 7-10.

Nghiên cứu của Oxfam chỉ ra, khủng hoảng bất bình đẳng diễn ra nghiêm trọng đe dọa tiến trình nghèo đói, khi 85 người giàu nhất thế giới sở hữu tài sản của 3,5 tỷ người. Đến năm 2016 thì 1% người giàu nhất thế giới sở hữu 50% giá trị tài sản toàn cầu.

Vụ rò rỉ thông tin về thuế gây chấn động là Hồ sơ Panama khi bị phát hiện ra, công ty Mossack Fonseca - được lập ra trốn thuế cho các tổ chức cá nhân. Cứ 10 phút, họ tạo ra một công ty ở nước ngoài.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các thiên đường trốn thuế đã tăng 4 lần từ năm 2001. Nguồn vốn đổ vào tăng nhanh gấp 2 lần GDP toàn cầu.

Nghiên cứu của Oxfam chỉ ra, thiên đường thuế là nền kinh tế nhân tạo. Đơn cử như quần đảo Cayman thu hút FDI nhiều hơn Brazil gấp 7 lần, nhiều hơn Trung Quốc gấp 3 lần, trong khi họ chỉ có 69 ngàn dân. Điều này cho thấy đây là một nền kinh tế ảo. Theo đó, một nửa giá trị thương mại toàn cầu được thông qua một thiên đường thuế.

60% giá trị thương mại toàn cầu là giữa các công ty của một tập đoàn. Theo Oxfam nơi tạo ra lợi nhuận lại không được khai báo để đóng thuế. Bởi thực tế các công ty đa quốc gia có thể chỉ phải trích 5% lợi nhuận cho các khoản thuế thu nhập doanh nghiệp có nghĩa vụ phải chi trả. Những lợi nhuận này được chuyển tới thiên đường thuế.

Châu Á là nơi có số lượng lớn nhất các dòng tài chính phi pháp, chảy từ châu Á ra thế giới. Theo nghiên cứu có 65% là do lạm dụng, DN 30% tội phạm và 5% do tham nhũng gây nên, song đều là do chính DN lợi dụng vấn đề này. Theo ước tính, điều này dẫn tới các nước nghèo thất thoát 100 tỉ USD mỗi năm do trốn thuế.

Tại Việt Nam, 50% FDI đầu tư vào Việt Nam là đến từ thiên đường thuế nên lợi nhuận đều chuyển về đó. Dù Việt Nam thu hút nhiều đầu tư song thực chất số tiền thuế thu về khônq lớn. Trong đó một số nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam từ Hồng Kông, Singapore, quần đảo British Virgin... thì đều là những thiên đường thuế.

Việt Nam thường có thỏa thuận thuế APA (cơ chế thỏa thuận giá trước) cũng gây ra khó khăn trong ngăn chặn việc trốn thuế. Trong khi tại nhiều nước, do có lo ngại có thể xảy ra vấn đề tham nhũng khi có thỏa thuận này, nên nhiều quốc gia đã không ký thỏa thuận này.

Theo chuyên gia của Oxfam, có thể cấm vận với những dòng đầu tư đến từ thiên đường thuế. Người dân cũng có thể kiến nghị chính sách để đòi bình đẳng.

Để chuyển các lợi nhuận đến thiên đường thuế các doanh nghiệp làm bằng cách như chuyển giá, vay nội bộ và tài sản vô hình như thương hiệu, sở hữu trí tuệ... đều được đăng ký ở thiên đường thuế. Dù có nhiều cửa hàng ở khắp nơi song lợi nhuận thực tế được chuyển về thiên đường thuế.

Chuyển giá sẽ được thực hiện như sau: một sản phẩm được sản xuất ban đầu là Việt Nam sau đó bán thiên đường thuế với mức giá tăng lên rất cao, có thể từ 1 USD lên 100 USD. Khi bán sang nước thứ ba thì mức giá chỉ tăng thêm rất ít. Như vậy, lợi nhuận ở Việt Nam và nước thứ ba thu về rất thấp nên các tập đoàn nước ngoài chỉ đóng thuế rất ít, trong khi ở nước xuất khẩu thứ hai mặc dù có giá trị lớn nhưng đây là thiên đường miễn thuế nên không phải đóng thuế.

Khoản vay nợ nội bộ trong công ty cũng là hình thức chuyển giá, khó có thể biết được vì vấn đề này thuộc vào điều khoản bảo mật của doanh nghiệp. Khoản tiền này cũng đi qua nhiều nơi, do công ty mẹ yêu cầu công ty con phải vay, và phải trả khoản vay đó với lãi suất cao. Dẫn tới doanh nghiệp phải chuyển đi khoản tiền lớn về công ty mẹ, nên buộc phải thông báo là lỗ. DN này sau đó có thể đóng cửa hoặc di dời công ty sang nước khác mà không phải đóng khoản thuế nào.

Vấn đề là phải minh bạch hơn, thay đổi vấn đề là thuế cần được đóng ở đâu. Cần phải thay đổi ưu đãi thuế ở các quốc gia, chấm dứt những thiên đường thuế này. Những nội dung này lại không được OECD đưa vào, nên vấn đề này phải được đưa ra Liên Hiệp quốc.

An Ngọc

Theo InfoNet

Giảm thuế, lập 3 quỹ hỗ trợ doanh nghiệp

Khẳng định vai trò to lớn của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), Chính phủ trình dự luật mới để bước qua giai đoạn DNNVV chỉ được khuyến khích chung chung...

Thay mặt Chính phủ trình xin ý kiến Ủy ban Thường vụ Quốc hội về dự án Luật hỗ trợ DNNVV ngày 6-10, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định hàng loạt biện pháp mạnh hỗ trợ DNNVV, nhưng nhiều bộ lại có ý kiến khác mà theo ông Dũng là thiếu trách nhiệm và chủ yếu “soi xem có... ảnh hưởng gì tới bộ mình”.

Giảm 3-5% thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, một số chính sách hỗ trợ đã được quy định tại nghị định số 56/2009 về trợ giúp phát triển DNNVV nhưng chỉ mang tính khuyến khích chung, chưa cụ thể, không quy định nguồn kinh phí dẫn đến việc thực hiện hỗ trợ DNNVV chưa hiệu quả. Trong khi cộng đồng DNNVV ở nước ta chiếm 97%, đóng góp to lớn cho nền kinh tế.

“Ở một số quốc gia, hỗ trợ DNNVV được quy định trong hiến pháp” - ông Dũng cho hay.

Theo dự luật, các DNNVV tới đây có thể sẽ được hỗ trợ từ tín dụng, tài chính, công nghệ, thuê mặt bằng, xúc tiến và mở rộng thị trường, thông tin và tư vấn, phát triển nguồn nhân lực và cung cấp dịch vụ hỗ trợ...

Dự luật cũng quy định tới ba loại quỹ hỗ trợ, bao gồm: quỹ phát triển DNNVV, quỹ bảo lãnh tín dụng và quỹ hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo của địa phương.

Về hỗ trợ tài chính, dự thảo luật quy định: DNNVV được áp dụng mức thuế suất thấp hơn 3%, doanh nghiệp siêu nhỏ được áp dụng mức thuế suất thấp hơn 5% so với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp.

Về mặt bằng, doanh nghiệp, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế nào cho DNNVV thuê trên 30% diện tích đất công nghiệp thì ngoài việc được hưởng ưu đãi thuế và tiền thuê đất (nếu có), còn được giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần doanh thu cho DNNVV thuê.

Với cụm công nghiệp, nếu diện tích cho DNNVV thuê trên 50% thì cũng được giảm tới 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp đối với phần doanh thu cho DNNVV thuê”.

Các bộ “đá” nhau?

Thống nhất cao với sự cần thiết và mục đích ban hành dự luật này, nhưng nhiều thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội e ngại về tính khả thi cũng như sự xung đột với quy định của các đạo luật khác.

Ví dụ, về các quỹ được quy định trong dự luật, báo cáo thẩm tra của thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội nhận định đây là các quỹ tài chính nhà nước, hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng.

Trong khi việc thành lập quá nhiều quỹ mà hiệu quả thực chất đem lại chưa tương xứng, thường trực Ủy ban Kinh tế lo ngại các DNNVV khó tiếp cận các nguồn vốn, trong khi quỹ gây áp lực cho ngân sách.

Than phiền về việc dự án luật chưa được trình theo đúng trình tự, đặc biệt là chậm gửi dự luật tới cơ quan thẩm tra, Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển tiết lộ: “Dự án luật vẫn không tạo được sự đồng thuận của các bộ”.

Ông chỉ ra hàng loạt vấn đề có sự “vênh” nhau giữa ý kiến các bộ. Ví dụ theo tính toán của Bộ Tài chính thì nếu áp dụng chính sách của dự luật, ngân sách phải chi khoảng 20.000 tỉ đồng chứ không phải 13.000 tỉ đồng như tính toán của Chính phủ.

Bộ Tư pháp là đơn vị chủ trì thẩm định lại có ý kiến là hầu hết vướng mắc trong hỗ trợ DNNVV nằm ở khâu thực hiện chứ không phải do thiếu cơ chế hay do chưa có luật.

Đặc biệt, Bộ Tài chính thì gần như bác hết các điều kiện liên quan đến hỗ trợ về thuế; còn Ngân hàng Nhà nước thì đề nghị bỏ các quy định hỗ trợ thông qua công cụ chính sách tiền tệ; Bộ Công thương lo đến khả năng bị kiện ra Tổ chức Thương mại thế giới nếu một số quy định tại dự thảo luật được áp dụng.

“Tôi chỉ nêu ý kiến bốn “ông” như thế thì đã có chuyện rồi” - ông Hiển nói.

Giải trình về vấn đề này, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định Bộ Kế hoạch - đầu tư đã thành lập ban soạn thảo, mời các bộ, ngành liên quan tham gia nhưng các bộ đều cử không đúng người tham dự, nay cử người này, mai cử người khác.

Ông Dũng cũng nói thẳng khi tham dự các cuộc họp góp ý thì hầu hết đại diện các bộ chỉ soi xem có... ảnh hưởng gì tới bộ mình, chứ không mang tư tưởng rằng đây là vấn đề lớn của đất nước, nhu cầu bức xúc của cộng đồng doanh nghiệp.

“Cách làm luật của các bộ, ngành xưa nay không đến nơi đến chốn, thiếu trách nhiệm. Nên dù ban soạn thảo rất công phu dự thảo nhưng không ai cho ý kiến đóng góp, rồi đẩy lên Thủ tướng, Chính phủ... Đã phải họp rất nhiều cuộc để ra được bản dự thảo cuối cùng trình lên Thường vụ Quốc hội hôm nay”.

Ông Dũng khẳng định sau khi Thủ tướng, các phó thủ tướng họp bàn quyết định, văn bản trình ra Thường vụ hôm nay là đã được thống nhất giữa các bộ. “Nên bộ nào có ý kiến khác là không có giá trị” - ông Dũng bày tỏ.

Tình trạng ý kiến các bộ “đá” nhau lại xảy ra một lần nữa vào cuối giờ chiều 6-10, khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến dự án Luật quy hoạch.

Sau phần trình bày của bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư, lần lượt thứ trưởng các bộ Xây dựng, Tài nguyên - môi trường đã phát biểu bày tỏ không đồng tình nhiều điều, khoản của dự luật.

Quốc hội nhiều nước làm đến 23-24g

Cùng ngày, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về nội dung, chương trình kỳ họp thứ 2 của Quốc hội dự kiến khai mạc ngày 20-10, diễn ra khoảng một tháng.

Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đề nghị Quốc hội “nên đổi mới cách thức làm việc, thảo luận hết ý kiến mới nghỉ”.

Theo ông Hiển, nếu 18g vẫn còn nhiều việc, đề nghị bố trí cho đại biểu ăn nhanh rồi thảo luận tiếp. “Tôi thấy nhiều quốc hội người ta cũng làm như vậy, thậm chí người ta thảo luận đến 23-24g”.

Dự kiến kỳ họp thứ 2, Quốc hội sẽ xem xét thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 2015; nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị quyết về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp...

Theo Lê Kiên

Tuổi trẻ