Thứ Ba, 18 tháng 10, 2016

Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ: Trung ương sẽ bàn thảo về tích tụ ruộng đất để hút doanh nghiệp đầu tư

Đây là thông tin từ Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ với cử tri huyện Hương Khê và Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trong chuyến tiếp xúc cử tri mới đây.

Thực hiện chương trình tiếp xúc cử tri trước Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, ngày 7/10, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cùng các đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Tĩnh đã tiếp xúc cử tri tại huyện Hương Khê và huyện Cẩm Xuyên.

Thay mặt các vị đại biểu Quốc hội, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ ghi nhận những ý kiến đánh giá và kiến nghị của cử tri để gửi tới Quốc hội.

Liên quan đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, Trung ương sẽ thảo luận, ra nghị quyết về đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, trong đó có vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp.

Ngoài ra, để thu hút sự tham gia đầu tư của các doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn, Trung ương sẽ bàn thảo về vấn đề tích tụ ruộng đất tuy nhiên, vẫn phải bảo đảm sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, trang trại.

Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành liên quan trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 thông qua Kế hoạch tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với nhiều giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp.

Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, ngành tích cực chỉnh sửa căn cơ 19 tiêu chí nông thôn mới, tập trung vào các tiêu chí nâng cao thu nhập, bảo đảm an toàn, an ninh cho nhân dân và tăng cường phân cấp cho Chủ tịch UBND tỉnh quyết định các vấn đề phù hợp với thực tiễn của địa phương.

Đề cập tới việc thực hiện chính sách hỗ trợ, bồi thường thiệt hại đối với sự cố môi trường biển do Công ty Formosa gây nên, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết sau khi xảy ra sự cố, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 722/QĐ-TTg và một số chỉ đạo hỗ trợ trực tiếp cho người dân. Nay sau khi hoàn thành thống kê, Thủ tướng ban hành quyết định hỗ trợ bồi thường cho 7 đối tượng kể cả gián tiếp và trực tiếp.

“Ai cũng muốn nhanh hơn nhưng trên thực tế, một thiệt hại nhỏ thống kê đã phức tạp rồi, sự cố này liên quan tới 4 tỉnh, nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực thì việc thống kê là rất phức tạp. Ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Nên mặc dù các cơ quan rất tích cực nhưng không thể nhanh được. Mấy hôm tới, số tiền 3.000 tỷ đồng ứng trước hỗ trợ đền bù thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp sẽ được phân bổ tới các địa phương. Ta phải tạo đồng thuận xã hội trong việc này”, Phó Thủ tướng nói.

Ngoài hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân gặp thiệt hại, Phó Thủ tướng cho biết Chính phủ tích cực chỉ đạo các bộ, ngành xử lý môi trường biển bảo đảm sinh kế lâu dài cho dân; tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển tàu cá công suất lớn, tàu dịch vụ hậu cần gắn với xây dựng các tổ, đội đánh bắt thủy sản để ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.

Trả lời những băn khoăn, kiến nghị của cử tri về công tác xây dựng pháp luật, phòng chống tham nhũng, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ khẳng định Quốc hội, Chính phủ sẽ bảo đảm chất lượng sửa đổi của Bộ luật Hình sự. Tới đây, Chính phủ sẽ tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, lãng phí để đề xuất với Quốc hội các giải pháp căn cơ hơn.

Trước yêu cầu của cử tri về bảo đảm đời sống và tiền lương cho công chức, viên chức, Phó Thủ tướng cho rằng phải quyết tâm tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước và đời sống của công chức, viên chức. Đồng thời để để tăng lương thì phải triệt để tiết kiệm chi tiêu ở các cấp, các ngành.

Nam Dương

Theo Trí thức trẻ

Ai tạo ra “thiên đường thuế” như Panama?

Trong buổi trao đổi về “thuế và bất bình đẳng” của tổ chức Oxfam mới đây, có những con số và dữ liệu về các “thiên đường thuế” đáng giật mình. Vậy ai là người đã tạo ra những thiên đường thuế, tạo ra những bất bình đẳng lớn trong xã hội như hiện nay?

Việt Nam cũng có thể là một thiên đường thuế !

Năm 2013, 85 người giàu nhất thế giới bằng tổng số tài sản của 3,5 tỷ người nghèo nhất thế giới, đến năm 2016, con số này là 62 người giàu nhất tương đương 3,6 tỷ người nghèo nhất và 1% người giàu nhất thế giới chiếm số tài sản bằng 99% những người còn lại. Sự phân biệt giàu nghèo đang ngày càng nới rộng khoảng cách.

Nghiên cứu của Oxfam chỉ ra, khủng hoảng bất bình đẳng diễn ra nghiêm trọng đe dọa tiến trình xóa nghèo đói trên toàn thế giới. Một trong những nguyên nhân của sự bất bình đẳng về kinh tế trên thế giới là việc tồn tại của những thiên đường thuế.

Lấy ví dụ đơn giản, tổ chức này đặt vấn đề “bạn nghĩ sao nếu mình phải trả tiền cho một món đồ mà bạn không mua, không sử dụng?”, bất bình đẳng về thuế tại các thiên đường thuế hiện nay cũng như vậy. Nó giống như việc những người nghèo khổ, 99% của thế giới đang phải gánh trên vai số tiền thuế mà đáng ra 1% người giàu nhất thế giới phải đóng.

Vậy thế nào là thiên đường thuế? Và ai là người tạo ra nó?

Trả lời cho câu hỏi này, đại diện Oxfam bà Susana Ruiz Rodríguez cho biết: Thiên đường thuế có xu hướng chuyên môn hóa và đáp ứng nhu cầu của một vài cá nhân tổ chức như sau: Họ cung cấp mức thuế suất thực tế rất thấp, bao giồm cả mức thuế 0% cho cá nhân hoặc pháp nhân; Họ sử dụng pháp luật và phương thức hoạt động hành chính nhằm ngăn chặn trao đổi thông tin tự động cho mục đích thuế với các quốc gia khác; Họ sử dụng các điều khoản pháp luật hoặc hành chính nhằm cho phép các pháp nhân không cần công bố cấu trúc của doanh nghiệp (Bao gồm quỹ đầu tư, quỹ từ thiện, quỹ tài trợ…) hoặc chủ sở hữu tài sản hoặc quyền lợi.

“Và mỗi quốc gia đều có quyền quyết định khi muốn thành lập ra thiên đường thuế, quan trọng là tính bảo mật”, bà Susana nhấn mạnh. Bởi vậy, nếu Việt Nam muốn trở thành một thiên đường thuế cũng hoàn toàn có thể.

“Thiên đường thuế” hoạt động như thế nào?

Chia sẻ cụ thể hơn về hình thức hoạt động của các thiên đường thuế và cách thức “trốn thuế” của các doanh nghiệp qua các thiên đường này, bà Susana nói: Vụ hồ sơ Panama đã tiết lộ nhiều thông tin quan trọng. Ví dụ như một công ty ở Panama, cứ 10 phút lại thành lập một công ty ở nước ngoài. Hay quần đảo Cayman, có chưa tới 7.000 người dân vậy mà thu hút FDI lớn gấp 3 lần Trung Quốc có số dân là 2 tỷ người.

Thực tế những công ty “ảo” (offshone) được thành lập tại Panama chỉ là những hòm thư rất nhỏ, và chỉ tốn khoảng 79 USD để thành lập một công ty kiểu này.

Trên thế giới rất nhiều các thiên đường thuế, phân bổ ở khắp các nơi, tuy nhiên châu Á được đánh giá là nơi có dòng chảy tài chính phi pháp cao nhất thế giới. Dòng tiền này thì châu Á chảy tới các thiên đường thuế trên khắp thế giới. Trong số dòng tài chính phi pháp này 65% là đến từ doanh nghiệp, 30% là phạm tội và 5% là tham nhũng.

Các doanh nghiệp nước ngoài có đủ các chiêu trò để trốn thuế qua các thiên đường thuế và chúng ngày càng tinh vi hơn. Vụ việc được khui ra mới đây năm 2014 về thiên đường thuế luxemburg, Thụy Sỹ cũng từng gây chấn động thế giới. Nó được phát hiện khi người ta lần theo đường đi của một quả chuối từ Ecuador sang Anh, người ta đặt câu hỏi tại sao một quá chuổi ở Ecuador giá rẻ mạt mà sang Anh giá của nó lại đắt đỏ như vậy? Cuối cùng phát hiện ra rằng những quả chuối này đã phải đi qua rất nhiều thiên đường thuế, đội giá lên rất lớn, ví như quả chuối được mua ở Ecuador chỉ một đồng, khi qua các thiên đường thuế nó thành 100 đồng và tới Anh thì giá của nó là 101 đồng.

Theo bà Susana phân tích, việc chuyển giá này gây bất lợi cả cho người sản xuất ở Ecuador và người tiêu dùng ở Anh, chỉ có doanh nghiệp ở giữa là hưởng lợi. Họ thu lợi 99 đồng khi thực hiện các thao tác “ảo” ở các thiên đường thuế mà không phải mất một xu tiền thuế nào.

50% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là qua những “thiên đường thuế”

Việt Nam luôn nỗ lực thu hút FDI, trải thảm đỏ để mời các doanh nghiệp nước ngoài, tuy nhiên, chúng ta có thực sự được hưởng lợi tiền thuế đúng với lợi nhuận mà các doanh nghiệp FDI này tạo ra?

Theo nghiên cứu của Oxfam thì hiện nay 50% vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là qua những thiên đường thuế, trong đó có một số địa danh đầu tư lớn nhất vào Việt Nam như Hồng Kông (Trung Quốc), Singapore, quần đảo British Virgin... đều có những thiên đường thuế. Theo phân tích của bà Susana thì điều đó có nghĩa là chúng ta gần như “chẳng được gì” trong số lợi nhuận của các doanh nghiệp FDI.

Phân tích giải pháp cho tình trạng này, bà Susana cho biết: Các nước hoàn toàn có thể đưa ra những rào cản cần thiết với những địa danh đã có “tiếng xấu” là thiên đường thuế. Cụ thể, chúng ta cần đưa vào luật của quốc gia, yêu cầu các doanh nghiệp FDI khai báo cụ thể về các công ty con, hoạt động cụ thể để kiểm soát trước khi cho họ vào đầu tư.

“Panama sau khi bị lộ hồ sơ mật đã là có một cái danh rất xấu, nên các quốc gia hoàn toàn có thể dùng lệnh cấm vận với những khoản tiền đi qua quốc gia này”, bà Susana lưu ý.

Theo Nguyễn Thoan

Bizlive

Thứ Sáu, 14 tháng 10, 2016

Dệt may: Nỗi lo không đạt mục tiêu đề ra

Còn chưa đầy 3 tháng nữa sẽ kết thúc năm 2016, tuy nhiên, ngành dệt may vẫn đang gặp nhiều khó khăn và dự báo sẽ không đạt mục tiêu đề ra từ đầu năm nay.

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), 9 tháng năm 2016, toàn ngành dệt may có tổng kim ngạch xuất khẩu (KNXK) ước đạt 21,11 tỉ USD, tăng 6% so với cùng kỳ 2015, hoàn thành 68% so với kế hoạch đã đề ra.

Tuy nhiên, theo ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS, đây là con số tăng trưởng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây của ngành dệt may. Thậm chí, từ nay đến cuối năm, toàn ngành chỉ đặt mục tiêu đạt KNXK 28,5-29 tỉ USD, không đạt mức đặt ra từ đầu năm (31-32 tỉ USD).

Nguyên nhân của việc ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước sụt giảm nghiêm trọng về KNXK, ngoài những yếu tố khách quan tác động như: Nền kinh tế một số nước nhập khẩu dệt may của Việt Nam đang gặp khó khăn, sự kiện Brexit ở Anh… thì khó khăn của ngành dệt may bắt nguồn từ chính sách giữ tỉ giá của đồng Việt Nam ổn định hơn so với một số đồng ngoại tệ, khiến hàng hóa Việt Nam trở lên đắt hơn và giảm sức cạnh tranh với các nước.

“Hiện tình trạng khan hiếm đơn hàng đang xảy ra khá phổ biến, lượng đơn hàng của nhiều DN dệt may hiện mới chỉ bằng 70% so với cùng kỳ năm ngoái, nhiều DN còn đang tìm kiếm đơn hàng cho tháng 11-12/2016”, ông Vũ Đức Giang cho biết.

Đánh giá về thị trường nói chung, Chủ tịch VITAS cho biết, Việt Nam có 5 mặt hàng xuất khẩu dệt may chủ lực gồm: Quần áo, vải các loại, phụ liệu, sợi các loại và mặt hàng vải địa kỹ thuật, vải mành đều có mức tăng trưởng thấp và thấp hơn nhiều so với mục tiêu đề ra. Đặc biệt, mặt hàng sợi các loại xuất khẩu rất tốt sang thị trường Thổ Nhĩ Kỳ nhưng đang bị nước này áp thuế chống bán phá giá và sắp tới Ấn Độ cũng sẽ áp loại thuế này với mặt hàng sợi của Việt Nam. Việc này được ông Giang nhận định là “tác động rất nguy hiểm tới ngành dệt may”.

Hướng đến các thị trường mới

Về kế hoạch những tháng cuối năm 2016, ông Vũ Đức Giang đưa ra dự báo xuất khẩu hàng dệt may năm nay đạt khoảng 28-29 tỉ USD, tăng 5% so với năm 2015, như vậy trung bình 3 tháng cuối năm, xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam phải đạt ít nhất 2,5 tỉ USD.

Giải pháp đưa ra để đạt con số này, ông Giang cho biết, thực tế từ quý II/2016, khi thấy tín hiệu ngành dệt may “đi xuống”, các DN trong nước đã chủ động tìm ra một số thị trường mới như: Trung Quốc (Việt Nam đang xuất khẩu sợi, vải và quần áo sang thị trường này), Nga và Ấn Độ.

“Bản thân DN phải tự tìm ra hướng đi riêng cho mình và tìm ra các thị trường mới, gắn với đẩy mạnh phát triển công nghệ, đặc biệt với ngành may, để tăng năng suất mới có thể đạt được con số 2,5 tỉ USD trong 3 tháng tới”, Chủ tịch VITAS nói.

Ngoài ra, các DN cũng cần tập trung vào thị trường nội địa vì năm 2016 là năm thị trường nội địa có nhiều đột phá, rất nhiều các tập đoàn lớn, các cơ quan, bộ, ngành đã đặt hàng của DN trong nước như: Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam…

Về vấn đề thể chế, ông Giang cho biết, vừa qua VITAS đã tập hợp một khối lượng lớn kiến nghị của DN về một số quy định quản lý chuyên ngành bất hợp lý trình Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan liên quan để có hướng điều chỉnh, sửa đổi phù hợp. Một trong những kiến nghị được Bộ Công Thương tiếp thu là sẽ bãi bỏ Thông tư 37 về kiểm tra hàm lượng formaldehyt và amin thơm giải phóng từ thuốc nhuộm azo. Nhiều kiến nghị khác cũng đang được Bộ Công Thương nghiên cứu sửa đổi hoặc đề nghị Chính phủ và các cơ quan liên quan rà soát, tháo gỡ.

Theo Phan Trang

Chinhphu.vn

Cả nước có 13 tỉnh thành đóng góp ngân sách, cải cách tiền lương cách nào?

Về vấn đề cải cách tiền lương, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng có nhiều khó khăn do ngân sách Nhà nước eo hẹp. “Cả nước chỉ có 13 tỉnh, thành phố đóng góp cho ngân sách Trung ương để phân bổ cho các tỉnh còn lại. Trong khi đó, giá dầu thô giảm làm thu ngân sách Trung ương giảm liên tục...”

Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đã cho biết như vậy tại cuộc tiếp xúc cử tri tại Hà Tĩnh, ngày 8/10.

Trả lời những băn khoăn, kiến nghị của cử tri về công tác xây dựng pháp luật, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết Quốc hội Khóa XIII đã nỗ lực rất lớn để thông qua Hiến pháp năm 2013 và sau đó là hơn 100 luật để cụ thể hóa Hiến pháp, cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Riêng Bộ luật Hình sự (sửa đổi), các nhà quản lý, chuyên gia đã tiếp tục rà soát, phát hiện các lỗi sai để sửa đổi. “Tuy là lỗi kỹ thuật, không ảnh hưởng đến quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng nhưng nếu đưa vào thực thi cũng sẽ gây ra trở ngại khó khăn cho xã hội”, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nói và khẳng định Quốc hội, Chính phủ sẽ bảo đảm chất lượng sửa đổi của bộ luật quan trọng này.

Chia sẻ với những lo lắng của cử tri về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh, Đảng luôn coi trọng thực hiện và các cơ quan Nhà nước sẽ xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ để đấu tranh với loại tội phạm này.

“Tới đây, Chính phủ sẽ tổng kết 10 năm thực hiện Luật phòng chống tham nhũng, lãng phí để đề xuất với Quốc hội các giải pháp căn cơ hơn”, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ nói.

Liên quan đến tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ cho biết, Trung ương sẽ thảo luận, ra nghị quyết về đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế, trong đó có vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp. Trung ương sẽ bàn thảo về vấn đề tích tụ ruộng đất để thu hút sự tham gia của doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn nhưng vẫn bảo đảm sự phát triển của kinh tế hộ gia đình, trang trại trên cơ sở áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ để nâng cao giá trị sản phẩm.

Thêm vào đó, Chính phủ cũng chỉ đạo các bộ, ngành liên quan trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 thông qua Kế hoạch tổng thể tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với nhiều giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp.

Đối với xây dựng nông thôn mới, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương các Chương trình mục tiêu quốc gia cho biết Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành tích cực chỉnh sửa căn cơ 19 tiêu chí nông thôn mới, tập trung vào các tiêu chí nâng cao thu nhập, bảo đảm an toàn, an ninh cho nhân dân và tăng cường phân cấp cho Chủ tịch UBND tỉnh quyết định các vấn đề phù hợp với thực tiễn của địa phương.

Trước yêu cầu của cử tri về bảo đảm đời sống và tiền lương cho công chức, viên chức, Phó Thủ tướng cho rằng phải quyết tâm tinh giản bộ máy, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước và đời sống của công chức, viên chức.

“Cả nước có 8 triệu người, tương ứng 10% dân số hưởng lương từ ngân sách trong đó có 600.000 công chức, 2,2 triệu viên chức giáo dục, 2,1 triệu cán bộ cấp xã và hưởng phụ cấp từ ngân sách, 3 triệu người hưởng lương hưu và phụ cấp người có công. Ta đang thực hiện Nghị quyết 39 của Bộ chính trị về tinh giản bộ máy để nâng cao chất lượng và lương cán bộ, một người làm nhiều việc”, Phó thủ tướng cho biết.

Về vấn đề cải cách tiền lương, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ cho rằng có nhiều khó khăn do ngân sách Nhà nước eo hẹp. “Cả nước chỉ có 13 tỉnh, thành phố đóng góp cho ngân sách Trung ương để phân bổ cho các tỉnh còn lại. Trong khi đó, giá dầu thô giảm làm thu ngân sách Trung ương giảm liên tục. Năm 2016 dự toán 60 USD/thùng nhưng giá sau 9 tháng mới chỉ được 43 USD/thùng... Chưa kể thiên tai, hạn hán tác động tới nền kinh tế làm sụt giảm nguồn thu từ sản xuất, xuất khẩu nông nghiệp. Do đó để tăng lương thì phải triệt để tiết kiệm chi tiêu ở các cấp, các ngành”, Phó thủ tướng nói.

Đề cập tới việc thực hiện chính sách hỗ trợ, bồi thường thiệt hại đối với sự cố môi trường biển do Công ty Formosa gây nên, Phó thủ tướng Vương Đình Huệ đề nghị các cử tri của Hà Tĩnh cần tạo dựng đồng thuận của các tầng lớp nhân dân tới chính sách của Nhà nước.

Sau khi xảy ra sự cố, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 722/QĐ-TTg và một số chỉ đạo hỗ trợ trực tiếp cho người dân. Nay sau khi hoàn thành thống kê thì Thủ tướng ban hành quyết định hỗ trợ bồi thường cho 7 đối tượng kể cả gián tiếp và trực tiếp.

“Ai cũng muốn nhanh hơn nhưng trên thực tế, một thiệt hại nhỏ thống kê đã phức tạp rồi, sự cố này liên quan tới 4 tỉnh, nhiều thành phần, nhiều lĩnh vực thì việc thống kê là rất phức tạp. Ta không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng. Nên mặc dù các cơ quan rất tích cực nhưng không thể nhanh được. Mấy hôm tới, số tiền 3.000 tỷ đồng ứng trước hỗ trợ đền bù thiệt hại cho người dân, doanh nghiệp sẽ được phân bổ tới các địa phương. Ta phải tạo đồng thuận xã hội trong việc này”, Phó thủ tướng nói.

Ngoài hỗ trợ trực tiếp cho ngư dân gặp thiệt hại, Phó thủ tướng cho biết Chính phủ tích cực chỉ đạo các bộ, ngành xử lý môi trường biển bảo đảm sinh kế lâu dài cho dân; tiếp tục thực hiện các chính sách phát triển tàu cá công suất lớn, tàu dịch vụ hậu cần gắn với xây dựng các tổ, đội đánh bắt thủy sản để ngư dân yên tâm vươn khơi bám biển.

Theo Mạnh Nguyễn

Bizlive

Thứ Ba, 11 tháng 10, 2016

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan: Không thể để nông nghiệp mãi thiệt thòi!

Nông nghiệp làm được nhiều điều cho kinh tế, nhưng Nhà nước đang hỗ trợ nông nghiệp ít hơn những gì ngành này đáng được hưởng!

Đây là ý kiến của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan bên lề một cuộc hội thảo về tận dụng không gian chính sách để hỗ trợ các ngành kinh tế nội địa cách đây ít hôm.

Bà Phạm Chi Lan cho biết, dù cho không gian chính sách của Việt Nam đã bị “thu hẹp” hơn so với trước đây bởi những cam kết khi hội nhập nhưng Chính phủ vẫn có những khoảng trống tận dụng được tại thị trường trong nước. Trong đó, bà đặc biệt đề cập đến việc hỗ trợ cho ngành nông nghiệp.

“Tôi muốn nhấn mạnh cái mà chúng ta cần tận dụng trong thời gian tới là hỗ trợ đối với nông nghiệp”, bà Chi Lan nói.

Bởi theo vị chuyên gia này, nông nghiệp Việt Nam vẫn còn dư địa rất lớn để khai thác đồng thời có một vị trí quan trọng về mặt dân sinh.

Cụ thể hơn 65% dân số Việt Nam vẫn sống ở nông thôn và vẫn dựa vào nông nghiệp; 48% lực lượng lao động Việt Nam đang làm việc trong khu vực này. Ngoài ra, cho đến thời điểm hiện tại đây vẫn là ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh nhất.

“Nông nghiệp nếu thoạt nhìn có vẻ như chúng ta bị thua các nước khác, tuy nhiên, nếu nhìn rộng hơn, thì Việt Nam vẫn có lợi thế rất lớn trong lĩnh vực này”, bà Chi Lan nhận định.

Do vậy, bà cho rằng đây là lĩnh vực cần hơn cả để nghiên cứu sâu, định hình rõ ràng những chính sách hỗ trợ trong thời gian tới.

Không chỉ thay đổi, hỗ trợ ngành nông nghiệp vì tính cạnh tranh trên trường quốc tế, bà Chi Lan còn chỉ ra đây là việc bắt buộc phải làm vì nông nghiệp đang đứng trước thách thức lớn hơn bao giờ hết.

“Gần như chúng ta phải thay hoàn toàn cách làm nông nghiệp so với trước đây bởi biến đổi khí hậu, thiên tai. Từ thực tế ở Việt Nam đã đặt ra các vấn đề như tài nguyên thiên nhiên cần được khai thác hiệu quả, nuôi dưỡng về lâu về dài chứ không phải là tận diệt như bây giờ”, bà nói.

Bà Chi Lan cũng chỉ ra việc khoa học công nghệ cũng thay đổi liên tục đòi hỏi nông nghiệp có sự chuyển mình mạnh mẽ vì nếu không nông nghiệp Việt Nam không có cách gì đáp ứng được các chuẩn trên thế giới.

Mặt khác, theo bà Chi Lan, yêu cầu của người tiêu dùng trong nước về tính an toàn của nông sản cũng là yêu cầu lớn mà nông nghiệp cần làm vì đấy là nhu cầu tất yếu, là sinh mạng mà mấy chục triệu người dân, tương lai nòi giống Việt, đòi hỏi đó đặt nông nghiệp trước những thách thức lớn nên nông nghiệp cần phải tối đa không gian chính sách cho nông nghiệp.

“Việt Nam là nước đang phát triển nên vẫn được dùng 10% tổng sản phẩm nông nghiệp để hỗ trợ trở lại cho ngành nhưng từ trước đến giờ đã bao giờ chúng ta đã dùng hết chưa, chúng ta dùng thấp hơn rất nhiều. Nông nghiệp làm được nhiều cho ngành kinh tế, nhưng chúng ta lại đang hỗ trợ ít hơn những gì ngành đáng được hưởng. Thiệt thòi lắm!”, bà Phạm Chi Lan thở dài.

Đức Minh

Theo Trí thức trẻ

Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2016

Hợp nhất BQL Khu Kinh tế Dung Quất và BQL các Khu công nghiệp Quảng Ngãi

BQL Khu kinh tế Dung Quất và các Khu công nghiệp Quảng Ngãi (gọi tắt là BQL) được thành lập trên cơ sở hợp nhất BQL Khu kinh tế Dung Quất đã được thành lập theo Quyết định số 72/2005/QĐ-TTg ngày 5.4.2005 của Thủ tướng Chính phủ và BQL các Khu công nghiệp Quảng Ngãi được thành lập theo Quyết định số 830/TTg ngày 7.10.1997 của Thủ tướng Chính phủ.

BQL là cơ quan trực thuộc UBND tỉnh Quảng Ngãi, thực hiện chức năng quản lý nhà nước trực tiếp đối với Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi; quản lý và tổ chức thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ hành chính công và dịch vụ hỗ trợ khác có liên quan đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư trong Khu kinh tế Dung Quất và các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.

BQL có tư cách pháp nhân, có tài khoản, trụ sở làm việc và con dấu hình quốc huy; kinh phí quản lý hành chính, kinh phí hoạt động sự nghiệp của Ban Quản lý và vốn đầu tư phát triển do ngân sách nhà nước cấp theo kế hoạch hàng năm; nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật.

Theo Hải Yến

Lao động

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Cảnh báo nợ công của Việt Nam có nguy cơ vượt trần

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65% GDP) đang dần hiện hữu.

Theo Báo cáo của Chính phủ vào cuối tháng 3 vừa qua, nợ công (bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước, nợ của chính quyền địa phương) của Việt Nam đã chiếm 65% GDP, riêng nợ nước ngoài của Chính phủ đã vượt ngưỡng 50% cho phép, chiếm 50,3% GDP. Còn trong báo cáo mới nhất điểm lại nửa chặng đường của năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65% GDP) đang dần hiện hữu.

Thực trạng sử dụng ngân sách không hiệu quả đang diễn ra phổ biến trên cả nước, cụ thể như: Dự án đạm Ninh Bình phải bỏ dở chừng vì đầu tư 12.000 tỷ đồng, mỗi năm lỗ 2.000 tỷ đồng. Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng) đã chi 7.000 tỷ đồng đến nay vẫn đắp chiếu, mặc cho máy móc, thiết bị hoen rỉ dần…. Nhiều dự án đầu tư công chậm tiến độ, đội vốn… như dự án đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông (Hà Nội) khởi công tháng 10/2011, dự kiến hoàn thành vào năm 2015. Tuy nhiên, đến nay dự án này vẫn chưa đi vào sử dụng mà vốn đã đội vốn gần 7000 tỷ đồng, Dự án đường 5 kéo dài có tổng mức đầu tư là 3.532 tỷ đồng, đã chậm tiến độ tới 6 năm và mức đầu tư cho dự án cũng tăng gần gấp đôi...

Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nêu ý kiến: “Đầu tư công khi dự toán là một, đến lúc thực hiện tăng lên gấp 2, gấp 3 lần. Cái đó thể hiện sự kém hiệu quả của đầu tư công, trong đó có thể là lãng phí, có thể thất thoát … vì vậy, đầu tư công trở nên kém tin cậy. Khi tính là một thì có hiệu quả nhưng khi thực tế tăng lên gấp 2, gấp 3 thì hiệu quả sẽ hoàn toàn biến mất”.

Trong khi đó, báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, hiện cả nước dư thừa khoảng 7.000 chiếc xe công, điển hình như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa 176 xe, Bộ Công Thương thừa 57 xe... Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành, địa phương vẫn tiếp tục đề nghị được mua xe mới.

Tổng hợp báo cáo kiểm toán năm 2015 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy vẫn còn nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, như: mỗi năm Tổng Công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) lỗ 3.400 tỷ đồng; Tổng Công ty Xây lắp dầu khí lỗ 3.500 tỷ đồng; Binh đoàn 15 lỗ 470 tỷ đồng... Các chuyên gia cho rằng, các khoản nợ trong nước của các doanh nghiệp này thường được Chính phủ hỗ trợ dưới các hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ và để bù đắp phần chi tiêu ngân sách cho khu vực doanh nghiệp nhà nước. Chính phủ sẽ buộc phải phát hành trái phiếu cũng khiến nợ công tăng cao.

Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết: “Trong một nền kinh tế vận hành bình thường thì các doanh nghiệp tự vay tự trả. Vì nền kinh tế của ta là nền kinh tế đang phát triển, cho nên phải vận dụng rất linh hoạt việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp, để họ phát triển thì Chính phủ phải đứng ra bảo lãnh để họ vay vốn và doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ. Nhưng trong tình huống xấu nhất thì đúng là nhà nước phải chịu”.

Theo số liệu mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng thu ngân sách nhà nước trong 8 tháng qua đạt 603 nghìn 700 tỷ đồng nhưng đã phải chi ra 715 nghìn 200 tỷ đồng, tức là bội chi đã lên đến 111 nghìn 300 tỷ đồng. Ông Bùi Ngọc Sơn, Phó Trưởng phòng Phòng Kinh tế thế giới, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới cho rằng, với điều kiện tăng trưởng kinh tế thấp như hiện nay, thu ngân sách khó có thể bảo đảm dự toán và nếu kinh tế tăng trưởng không đạt mục tiêu thì nợ công và bội chi cũng sẽ tăng. Nợ công và kể cả nợ nước ngoài có giai đoạn đã bắt đầu chồng lấp và mức độ tăng lên chính là vì như vậy.

Nhưng đáng lo ngại, theo ông Sơn, là triển vọng kinh tế của ta chưa sáng. Rõ ràng khi vay nợ nhiều, nguồn thu để trang trải nợ trong chi tiêu của Chính phủ, trong ngân sách của nhà nước tính đến năm sau có thể lên đến 30% là nguy hiểm. Nếu như thế thì thu được bao nhiêu đi trả nợ hết, hoặc là vay xong lại đi trả nợ luôn.

Theo các chuyên gia kinh tế, nợ công trong mấy năm gần đây tăng nhanh là do Việt Nam phải vay nợ mới để trả nợ cũ, và nếu đà nợ công vẫn cứ tăng đều như hiện nay thì nợ công sẽ vượt trần.

Chuyên gia kinh tế Ngô Trí Long cho rằng, Việt Nam phải kiểm soát thật chặt nguồn vốn vay. Bên cạnh đó, cần nâng cao tính minh bạch của các dự án đầu tư công. Một trong những giải pháp có tính chất quan trọng là chúng ta phải quy trách nhiệm, xác định rõ ràng, không những trách nhiệm về mặt dân sự mà trách nhiệm cả về mặt hình sự nếu có những hiện tượng tham ô, lãng phí. Thực tế hiện nay vấn đề này Đảng và Nhà nước đã nhìn thấy nhưng việc làm có quyết liệt hay không lại là vấn đề cần phải bàn.

Hiện, nợ công của Việt Nam vẫn đang tiếp tục tăng cao và nghĩa vụ trả nợ cũng ngày càng lớn. Các chuyên gia kinh tế khuyến cáo, thời gian tới, đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt, thực chất hơn của hoạt động giám sát Quốc hội để kiểm soát nợ công, cần tăng cường công cụ kiểm toán trong giám sát nợ công. Bên cạnh đó, cần chủ động ngăn chặn sự thất thoát, lãng phí đầu tư và chi tiêu công; xiết chặt và tăng cường kỷ luật, năng lực, hiệu quả quản lý, sử dụng nợ công; đồng thời, cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo tinh thần “phòng cháy hơn chữa cháy”./.

Theo Cẩm Tú

VOV