Thứ Tư, 14 tháng 9, 2016

Ngân hàng Thế giới: Nhiều trợ cấp, ưu đãi nên Lọc dầu Dung Quất hiệu quả thấp là điều “khó hiểu”

Hiệu quả hoạt động không tương xứng với quy mô của Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã khiến cho đại diện của Ngân hàng Thế giới (WB) thẳng thắn chỉ ra: “Đang có diễn biến hơi khó hiểu".

Theo bà Masami Kojima - đại diện Ngân hàng Thế giới (World Bank), mức thuế nhập khẩu xăng dầu từ các thị trường khác nhau là một trong những vấn đề đặt ra với các nhà máy lọc dầu.

"Cụ thể, thuế nhập khẩu xăng dầu từ Hàn Quốc, ASEAN rất thấp làm cho ngành lọc dầu không còn hấp dẫn nữa. Đây là vấn đề khá phức tạp với các nhà máy lọc dầu", bà Kojima cho biết.

Dẫn chứng từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất do Công ty TNHH Lọc hoá dầu Bình Sơn (BSR) vận hành, vị chuyên gia WB phân tích: Dựa trên quy mô, nhà máy này hoàn toàn có đủ khả năng cạnh tranh tốt và có hiệu quả sản xuất. Chưa kể, BSR còn có rất nhiều ưu đãi về thuế, tài chính bên cạnh vị trí thuận lợi, nên kết quả hoạt động rất thấp theo WB là “diễn biến hơi khó hiểu”.

Việc Chính phủ trợ cấp cho năng lượng không phải lúc nào cũng tiêu cực theo đánh giá của WB. Bởi ngay cả ở những nước có thị trường năng lượng lớn mạnh thì chính sách trợ cấp chéo vẫn được duy trì để nhằm mục tiêu khác nhau về kinh tế, xã hội, nâng cao sử dụng năng lượng mới…

Tuy nhiên, vấn đề được chuyên gia WB đặt ra là “Các chính sách của Chính phủ liệu có thu được những lợi ích lớn hơn chi phí hay không và làm thế nào để đảm bảo rằng những khoản trợ cấp không làm méo mó thị trường?”.

Trở lại với câu chuyện của Nhà máy lọc dầu Dung Quất, không những được ưu đãi về thuế, tài chính mà nhà máy này còn sử dụng nguồn dầu thô ngay trong nước. Do đó, lẽ ra chi phí để sản xuất và phân phối phải thấp hơn các nước khác.

“Nếu so sánh với sản phẩm lọc dầu của Singapore, họ phải mất chi phí vận chuyển 2 lần để nhập dầu thô đến nhà máy của họ và sau đấy phải xuất khẩu sang các thị trường tiêu thụ. Trong khi đó, BSR đang hưởng 2 ưu đãi về thuế quan trọng bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và có thể giữ lại số tiền thuế tương đương với ưu đãi. Tại sao có những lợi thế như vậy mà nhà máy không có hiệu quả?", bà Kojima so sánh và đặt câu hỏi.

Với thực trạng hoạt động như trên, đại diện WB cũng bày tỏ lo ngại rằng khi Bình Sơn đang có kế hoạch đưa nhà máy lọc dầu thứ 2 vào hoạt động thì cần phải đánh giá lại, tránh những tác động không tích cực đến khả năng tài chính của BSR.

Theo bà Phạm Kim Quyên - Ban Quy hoạch thị trường, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), mặc dù BSR có nhiều ưu đãi nhưng một trong những khó khăn đó là không được tự quyết giá vận chuyển.

Bên cạnh đó, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất sẽ tiêu thụ dầu thô ngọt từ mỏ Bạch Hổ nên khi bán ra thị trường giá rất cao bởi ngay cả khi giá dầu xuống, do buộc phải mua giá dầu ngọt của Bạch Hổ có mức chênh nhiều với giá dầu chua.

"Nhìn chung, thị trường Việt Nam rất phức tạp, các chính sách trợ cấp cần phải đặt trong tổng thể lớn dựa trên các tiêu chí về kinh tế, an ninh năng lượng, phát triển về môi trường….", bà Quyên nói.

Chênh lệch thuế nhập khẩu xăng dầu được xem là nguyên nhân khiến cho Lọc dầu Dung Quất không thể cạnh tranh. Do đó, sau nhiều lần kêu cứu thì mới đây Thủ tướng đã đồng ý cho Lọc dầu Dung Quất được điều chỉnh thu điều tiết ngân sách tương đương với thuế nhập khẩu để có khả năng cạnh tranh hơn. Đồng thời, từ ngày 1/1/2017 sẽ cho công ty này thực hiện cơ chế tự chủ tài chính, không nhận trợ cấp mà theo thị trường.

Trước quyết định của Thủ tướng, trao đổi với chúng tôi ông Trần Ngọc Nguyên, Tổng giám đốc BSR cho rằng với cơ chế này thì Lọc hóa dầu Bình Sơn có nhiều lợi thế hơn trên thị trường như vận chuyển, bảo hiểm, thanh toán bằng tiền VND, thời gian đóng thuế...

“Do đó khi cơ chế cho Bình Sơn được tự chủ thì chắc chắn các đầu mối sẽ quay lại mua tại nhà máy lọc dầu. Khi Dung Quất bán được nhiều thì nhà máy lọc dầu vận hành với công suất tối ưu và theo đó, mức nộp ngân sách cũng tăng thêm là 2.200 tỷ ...” – ông Nguyên tính toán.

Kế hoạch về mở rộng nhà máy, ông Nguyên cho biết đến năm 2021 sẽ hoàn thành với tổng vốn đầu tư là 1,8 tỷ USD và công suất nâng lên 30%, chế biến nhiều sản phẩm dầu thô. Đồng thời, theo lộ trình của Chính phủ thì cuối năm 2017 BSR bắt đầu IPO và hiện đang mời tư vấn xác định giá trị doanh nghiệp, phương thức cổ phần hóa để báo cáo Chính phủ.

M. Ngọc

Theo Trí thức trẻ

Các hãng bia ngoại "xếp hàng" chờ mua Habeco và Sabeco

Theo nguồn tin thân cận được Wall Street Journal trích dẫn, hiện đang có một số hãng bia nước ngoài quan tâm đến việc mua cổ phần của Sabeco và Habeco gồm Thai Beverage và Singha của Thái Lan, Kirin và Asahi của Nhật Bản, Heineken và Anheuser-Busch InBev của Hà Lan.

Một số trong những nhà sản xuất bia lớn nhất thế giới đang “xếp hàng” để có thể bước chân vào thị trường bia đầy tiềm năng ở Việt Nam, góp phần tạo nên một năm bận rộn với các thương vụ thâu tóm sáp nhập trên một trong những thị trường có tiềm năng tăng trưởng cao nhất ở châu Á.

Chính phủ Việt Nam đang muốn huy động hơn 2 tỷ USD từ việc bán cổ phần tại hai công ty quốc doanh đang sản xuất hai sản phẩm bia Sài Gòn và bia Hà Hội, kỳ vọng trong 2 năm tới sẽ lần lượt bán 90% và 82% ở Sabeco và Habeco.

Theo nguồn tin thân cận được Wall Street Journal trích dẫn, hiện đang có một số hãng bia nước ngoài quan tâm đến việc mua cổ phần của Sabeco và Habeco gồm Thai Beverage và Singha của Thái Lan, Kirin và Asahi của Nhật Bản, Heineken và Anheuser-Busch InBev của Hà Lan.

Eugene Gong, người phụ trách mảng M&A Đông Nam Á tại Deutsche Bank, nhận định đây là cơ hội hiếm có để thâu tóm những công ty đang dẫn đầu thị trường Việt Nam – một trong những nước tiêu thụ bia lớn nhất thế giới. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tất cả những ông lớn trên thế giới đều đang quan tâm đến hai thương vụ này.

Heineken, Singha và AB InBev từ chối bình luận. Tuy nhiên, ThaiBev và Kirin cho biết họ sẵn sàng chờ đón cơ hội còn Asahi đã từng nói họ quan tâm tới Sabeco.

Thương vụ bán Sebco và Habeco cũng được coi là một phép thử cho cam kết mở rộng chương trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Chính phủ. Theo bà Lương Thị Mỹ Hạnh, CIO của quỹ VietFund Management, điều này thể hiện quá trình cổ phần hóa đang được tăng tốc và cho thấy Chính phủ không chỉ quyết tâm tăng tính minh bạch mà còn muốn tái cơ cấu nền kinh tế một cách sâu rộng hơn. Quá trình cổ phần hóa Sabeco đã bị trì hoãn vài lần trong những năm qua.

Bán cổ phần ở Sabeco và Habeco cho nhà đầu tư ngoại cũng nằm trong làn sóng nới lỏng giới hạn sở hữu nước ngoài, mở cửa chào đón dòng vốn ngoại của Việt Nam. Đã có nhiều dấu hiệu cho thấy kết quả bước đầu: kể từ đầu năm nay, tổng giá trị các thương vụ M&A đã lên tới gần 4 tỷ USD, cao nhất trong hơn 1 thập kỷ.

Dù con số 4 tỷ USD là nhỏ bé so với những thị trường lớn như Mỹ, đây đã là thành tích ấn tượng của Việt Nam và đã cao hơn khoảng 30% so với 10 năm trở lại đây (theo số liệu từ Dealogic).

Với hơn 90 triệu dân và nhu cầu về mọi thứ từ đồ ăn thức uống cho tới dịch vụ tài chính đều đang tăng lên, Việt Nam đang thu hút được làn sóng các công ty từ Nhật Bản đến châu Âu hào hứng tìm kiếm những mục tiêu tiềm năng.

Hồi tháng 7, công ty sữa Vinamilk được nâng room vốn ngoại lên 100% và công ty F&N của Singapore đang muốn tăng tỷ lệ sở hữu từ mức 11% hiện nay. Tháng trước, quỹ đầu tư của nhà nước Singapore thông báo mua 7,7% cổ phần của Vietcombank, ngân hàng có giá trị vốn hóa lớn nhất nước. Năm ngoái, tập đoàn Singha rót 1,1 tỷ USD vào các công ty con của tập đoàn Masan. Đây là thương vụ đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam.

Thu Hương

Theo Trí thức trẻ/WSJ

Minh bạch quyền lực của Bộ Công Thương

“Quyền lực của Bộ trưởng, của Bộ Công Thương tại dự thảo luật là rất lớn, vậy điều khoản nào để minh bạch quyền lực này?”, Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá - Giáo dục - Thanh thiếu niên và nhi đồng Phan Thanh Bình đặt câu hỏi về dự thảo Luật Quản lý ngoại thương.

Tiếp tục phiên họp thứ ba, sáng 14/9, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Quản lý ngoại thương.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh không có mặt. Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú trình bày tờ trình dự án luật.

Theo tờ trình, phạm vi điều chỉnh của luật chỉ tập trung quy định công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương, bao gồm quy định về các biện pháp quản lý, giải quyết tranh chấp trong hoạt động ngoại thương hàng hóa và các biện pháp phát triển ngoại thương.

Nhất trí với phạm vi này, song Thường trực Uỷ ban Kinh tế - cơ quan thẩm tra dự án luật - chưa đồng tình với một số quy định cụ thể.

Chẳng hạn, dự thảo luật giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.

Đa số ý kiến trong Thường trực Ủy ban Kinh tế đề nghị quy định cụ thể danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu tại dự thảo luật nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý cao, minh bạch, ổn định, dễ áp dụng. Việc hạn chế quyền tự do kinh doanh của tổ chức, cá nhân được thể hiện ngay trong luật, phù hợp với yêu cầu của Hiến pháp, Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh nhấn mạnh.

Hay, dự thảo luật quy định Bộ trưởng Bộ Công Thương quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trên cơ sở lấy ý kiến của các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan.

Còn tại thường trực cơ quan thẩm tra, đa số ý kiến đề nghị quy định Thủ tướng có thẩm quyền quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa vì việc này có liên quan đến nhiều bộ, ngành khác nhau.

Nhiều ý kiến tại cơ quan thẩm tra cũng nhận xét, các điều quy định thẩm quyền áp dụng trong dự thảo luật đều tập trung đầu mối là Bộ Công Thương.

Bên cạnh quyết định tạm ngừng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa như đã nói trên, Bộ trưởng Bộ Công Thương còn có thẩm quyền công bố hàng hóa cần áp dụng hạn ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, công bố lượng hạn ngạch, phương thức điều hành đối với từng hàng hóa áp dụng hạn ngạch thuế quan, quyết định công bố hàng hóa và cửa khẩu xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa tương ứng...

Chủ nhiệm Phan Thanh Bình nhận xét, đọc dự thảo luật có cảm giác nặng nề, khi thiên về quản lý nhiều hơn là phát triển ngoại thương.

“Quyền lực của Bộ trưởng, của Bộ Công Thương tại dự thảo luật là rất lớn, vậy điều khoản nào để minh bạch quyền lực này?”, ông Bình đặt câu hỏi.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đặt câu hỏi, luật giao Chính phủ quy định chi tiết danh mục hàng hóa cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu, điều này hạn chế thế nào đến quyền tự do kinh doanh đã được hiến định? Mối quan hệ của Luật Quản lý ngoại thương với Luật Thương mại thế nào cũng là vấn đề được Chủ tịch nêu.

Trả lời những câu hỏi của Chủ tịch Quốc hội, Thứ trưởng Cẩm Tú khá lúng túng, ông loay hoay tìm tài liệu và chủ yếu nhắc lại nội dung đã nêu ở tờ trình.

Theo Nguyễn Lê

VnEconomy

Dự án 'trung tâm tro cốt' và bóng dáng ông Trịnh Xuân Thanh

Dự án Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình do liên danh Tổng Cty Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC) và Cty TNHH TM Hỗ trợ kiến thiết Miền núi (Cty Miền Núi) làm chủ đầu tư đến nay đã 17 năm vẫn giậm chân tại chỗ. Điều đáng nói sau khi trúng thầu, PVC đã "biến mất" khỏi dự án.

Dự án 17 năm "bất động"

Trao đổi với chúng tôi qua điện thoại, bà Hoàng Thị Kim Loan – Giám đốc Cty Miền Núi cho biết: Năm 2009, UBND quận Thanh Xuân quyết định phê duyệt kết quả đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án có sử dụng đất trên địa bàn làm Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình (chủ đầu tư dự kiến xây dựng 2 cao ốc kết hợp trung tâm thương mại và dạy nghề).

Dự án nằm trên phường Hạ Đình (quận Thanh Xuân) và xã Tân Triều (huyện Thanh Trì), trúng thầu là liên danh PVC (do ông Trịnh Xuân Thanh là Chủ tịch HĐQT, TGĐ) và Cty Miền Núi. Khi trúng thầu, nhà đầu tư phải hỗ trợ ngân sách TP Hà Nội 2 tỷ đồng.

Theo bà Loan, hợp đồng thoả thuận liên danh PVC sẽ góp 10% tổng mức đầu tư. Sau khi trúng thầu, PVC và Cty Miền Núi có họp với nhau được vài lần năm 2009. "Cty Miền Núi nhiều lần có văn bản đề nghị PVC đóng tiền nhưng họ không thực hiện cũng không có hồi âm. Kể từ đó, PVC hầu như "biến mất" khỏi dự án này" - bà Loan nói.

Vừa qua, Cty Miền Núi đề xuất UBND TP Hà Nội chuyển đổi dự án Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình, Trung tâm văn hoá tâm linh để kinh doanh đồ thờ và lưu trữ tro cốt. Để triển khai dự án, Cty Miền Núi đề xuất TP Hà Nội thu hồi hơn 15.000m2 đất tại phường Hạ Đình và xã Tân Triều.

Đến ngày 1/9/2015, UBND thành phố Hà Nội có văn bản 6010 "đồng ý về mặt nguyên tắc" với đề xuất của Cty Miền Núi. Tuy nhiên, đề xuất này đã vấp phải sự phản đối của nhiều hộ dân sinh sống quanh khu vực…

Bác đề nghị chuyển đổi dự án

Trao đổi với PV, ông Nguyễn Tiến Cường, Phó Chủ tịch UBND huyện Thanh Trì, cho biết: Trung tâm Thương mại dịch vụ Hạ Đình nằm trên đất quận Thanh Xuân và chỉ có một phần trên đất huyện Thanh Trì.

Ông Cường cũng đưa ra văn bản 8467 ngày 31/10/2014 của UBND Hà Nội, giao UBND quận Thanh Xuân và UBND huyện Thanh Trì tiếp tục thực hiện thu hồi đất, GPMB. Ông Cường cho rằng, văn bản này là căn cứ cho việc UBND huyện Thanh Trì lên phương án GPMB dự án.

Về việc này, Sở Quy hoạch & Kiến trúc Hà Nội cho rằng: Cty Miền Núi đề xuất bổ sung tạo lập một khu phục vụ cho thuê chỗ lưu trữ tro cốt tại công trình Trung tâm thương mại dịch vụ là chưa phù hợp với quy định tại quy hoạch nghĩa trang Thủ đô Hà Nội.

Bên cạnh đó, Cty Miền Núi đề xuất tăng chiều cao công trình từ 18 tầng lên 31 tầng là không phù hợp với quy hoạch phân khu đô thị H2-3, tỷ lệ 1/2000 được cấp thẩm quyền duyệt.

UBND quận Thanh Xuân cũng khẳng định, không đồng ý chuyển đổi dự án Trung tâm Thương mại Dịch vụ Hạ Đình thành dự án tâm linh…

Theo Minh Đức

Tiền phong

SCIC đầu tư 2 dự án tại Thái Nguyên

Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đang xem xét triển khai đầu tư 2 dự án tại Thái Nguyên là Dự án xây dựng Bệnh viện C Thái Nguyên cơ sở mới và Dự án xây dựng cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp Sông Công II.

Theo báo cáo, đối với dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện C Thái Nguyên cở sở mới, dự kiến được xây dựng trên địa bàn phường Cải Đan, thành phố Sông Công có tổng diện tích 4,59ha, với quy mô có thể đặt được 700 giường bệnh. Dự án đầu tư được đề xuất theo hình thức hợp đồng xây dựng – chuyển giao – thuê dịch vụ (gọi tắt là hợp đồng BTL). SCIC sẽ đầu tư xây dựng hoàn chỉnh công trình, sau đó chuyển giao cho tỉnh và bệnh viện thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư. UBND tỉnh chấp nhận hoàn trả tri phí đầu tư và tiền lãi cho nhà đầu tư theo tiến độ hai bên cam kết.

Đối với dự án đầu tư hạ tầng KCN Sông Công 2, dự kiến được xây dựng trên địa bàn xã Tân Quang, thành phố Sông Công, gồm 2 dự án thành phần là: Dự án xây dựng hạ tầng KCN Sông Công 2 với tổng diện tích 250ha, tổng mức đầu tư 1,757 tỷ đồng; dự án xây dựng đường 36m nối KCN Sông Công 2 với quốc lộ 3 cũ và nút giao Sông Công với tổng mức đầu tư 200 tỷ đồng. SCIC kết hợp với một đơn vị có vốn góp chi phối và đơn vị khác cùng góp vốn thành lập công ty cổ phần để triển khai đầu tư xây dựng.

Về phía tỉnh Thái Nguyên, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh yêu cầu Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính phối hợp với đại diện Công ty SCIC và các sở, ngành liên quan xây dựng phương án đầu tư một cách chi tiết, cụ thể, đảm bảo các dự án được thực hiện một cách hiệu quả nhất. Về phía UBND tỉnh sẽ có văn bảo báo cáo lên Thường trực Tỉnh ủy để thống nhất chủ trương và hình thức đầu tư.

Theo Linh Nga

Diễn đàn doanh nghiệp

Doanh nghiệp Việt Nam - Hong Kong ký thỏa thuận thương mại trị giá 10 tỷ USD

Mười thỏa thuận hợp tác và hợp đồng thương mại có tổng giá trị lên đến 10 tỷ USD giữa các DN đã được ký kết trong chuyến thăm Khu hành chính đặc biệt Hong Kong của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chiều ngày 14/9.

Trước 300 nhà đầu tư dự Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư Hong Kong – Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ sự chờ đón các nhà đầu tư. Đây là diễn đàn đặc biệt do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp với Phòng Thương mại Trung Quốc tại Hong Kong và Phòng Thương mại Hong Kong – Việt Nam tổ chức.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã thông báo về cuộc hội đàm giữa với Thủ tướng Trung Quốc và các lãnh đạo cấp cao, trên cơ sở thống nhất nhiều phương hướng chiến lược để nâng tầm quan hệ hợp tác hai nước sang giai đoạn phát triển mới, với trọng tâm là đẩy mạnh hợp tác kinh tế thương mại mạnh mẽ hơn nữa, chất lượng cao hơn, hiệu quả, bền vững hơn.

Đây chính là nền tảng quan trọng, là cơ hội thuận lợi cho sự hợp tác thành công giữa các doanh nghiệp Việt Nam và các đối tác Trung Quốc nói chung và Hong kong nói riêng. Cho rằng Việt Nam sẽ là một trong những đối tác thương mại ASEAN lớn nhất của Trung Quốc, Thủ tướng thông báo năm 2016, hai bên phấn đấu kim ngạch thương mại song phương đạt 100 tỷ USD.

“Chúng tôi cam kết rằng Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Hongkong đầu tư vào những lĩnh vực mà mình có thế mạnh như ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, dịch vụ vận tải biển, đầu tư cơ sở hạ tầng, linh kiện điện tử, công nghiệp phụ trợ, chế biến và tiêu thụ hàng nông sản” - Thủ tướng nói.

Thủ tướng mong rằng với vị thế là trung tâm tài chính hàng đầu khu vực và toàn cầu, Hong kong sẽ là thị trường thuận lợi để huy động các khoản tín dụng cho phát triển, nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam.

Tiến sỹ Jonathan Choi, Chủ tịch Danh dự vĩnh viễn Phòng Thương mại Trung Quốc tại Hong Kong và cũng là Chủ tịch Phòng Thương mại Hong Kong – Việt Nam cho rằng Chính phủ Việt Nam đang thực hiện nhiều chương trình cải cách thị trường đầy tham vọng với những chính sách phù hợp để có thể mở rộng hơn nữa hoạt động thu hút đầu tư thương mại từ mọi quốc gia trên thế giới.

Quyền Trưởng Khu hành chính đặc biệt Hong Kong Rimsky Yuen nêu rõ, Hong kong sẽ tiếp tục mở rộng đầu tư tại Việt Nam và hỗ trợ mạnh mẽ để doanh nghiệp Việt Nam thâm nhập thị trường Hong kong và Trung Quốc nội địa.

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc nhìn nhận: “Chuyến đi thăm chính thức tới Trung Quốc và tới Hong Kong lần này của Thủ tướng Chính phủ đã cổ vũ và thúc đẩy xu thế mở rộng đầu tư kinh doanh và hợp tác lâu dài cho các doanh nghiệp Việt Nam – Trung Quốc nói chung và Việt Nam – Hong kong nói riêng”.

Tại Diễn đàn đã diễn ra lễ ký 10 thỏa thuận hợp tác và hợp đồng thương mại với tổng giá trị lên đến 10 tỷ USD giữa các doanh nghiệp. VCCI đã ký kết thỏa thuận hợp tác với 3 đối tác gồm: Phòng Thương mại Trung Quốc tại Hong Kong, Phòng Thương mại Hong Kong – Việt Nam và Ủy ban Phát triển Thương mại Hong Kong.

M. Ngọc

Theo Trí thức trẻ

Sống bám bảo hộ

Doanh nghiệp hăm hở xin làm dự án thép là do những đặc quyền, đặc lợi mà ngành này được hưởng. Do đó, chính sách quản lý của nhà nước cần điều chỉnh để hài hòa lợi ích kinh tế nói chung

Giới chuyên gia cho rằng giá thép của Việt Nam không thể cạnh tranh với sản phẩm của Trung Quốc, thậm chí còn phải đánh đổi bằng hậu quả nặng nề về môi trường.

Hưởng lợi từ giá quặng rẻ

Mới đây, đại diện Công ty CP Tập đoàn Hoa Sen (HSG) đã khẳng định một doanh nghiệp (DN) làm thép lợi nhuận cả ngàn tỉ đồng chỉ trong một quý nên HSG “ngu gì không làm”.

Tuy nhiên, chuyên gia đến từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, cho rằng về tổng thể, ngành thép của Việt Nam không có tính cạnh tranh; thậm chí, các chính sách ưu đãi hiện hành làm méo mó, biến dạng thị trường thép, tạo ra môi trường thiếu lành mạnh và không hiệu quả.

Cụ thể, ông Tuấn giải thích sản xuất thép dùng 2 nguồn nguyên liệu là quặng sắt và thép phế liệu tái chế. Trong đó, dùng quặng sắt để chế biến thì sử dụng công nghệ lò cao, còn dùng thép phế liệu sử dụng công nghệ lò hồ quang. Đáng nói là chính sách cấm xuất khẩu quặng của nhà nước khiến DN khai thác chỉ bán được trong nước khiến giá quặng rất rẻ so với thế giới. “Có thời điểm, giá quặng trong nước chỉ bằng 50%-60% giá thế giới.

Những nhà sản xuất thép trong nước sử dụng lò cao được mua quặng trong nước với giá rất rẻ nên tạo ra sản phẩm giá thấp, lợi nhuận lớn. DN Việt Nam so về khả năng quản trị thì làm sao có thể vượt qua được các DN lớn trên thế giới nhưng lại có tỉ suất lợi nhuận hơn hẳn, lên đến 30%/năm. Ngành công nghiệp nặng nào có thể mang lại tỉ suất lợi nhuận ngất ngưởng như thế! Lợi thế đó chỉ có thể mang lại từ chính sách xuất khẩu quặng hiện nay” - TS Đỗ Thiên Anh Tuấn nhận định.

Do đó, theo ông Tuấn, đấy là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc HSG hăm hở “lao” vào sản xuất thép thay vì chỉ làm tôn. “HSG thấy lợi nhuận đến từ những đặc quyền, đặc lợi mà DN có thể có được từ chính sách nên mới đầu tư vào ngành công nghiệp thép lò cao gây ô nhiễm môi trường hơn nhiều so với thép tái chế” - ông Tuấn nói.

Bất lợi cho ngành khác

DN thép trong nước dù được hưởng lợi nhuận rất cao từ giá quặng rẻ nhưng vẫn không “quên” đòi hỏi thêm những ưu đãi khác từ chính sách bảo hộ của nhà nước, như chống bán phá giá. “Có DN được hưởng đặc quyền từ giá quặng rẻ nhưng vẫn đứng trong nhóm gửi đơn lên Bộ Công Thương đề nghị áp thuế tự vệ trước sản phẩm của Trung Quốc. Khi nào chứng minh được lợi nhuận của DN bị thu hẹp, thu nhập của người lao động giảm thì mới đòi áp thuế. Nếu có lợi nhuận lớn mà vẫn được áp thuế như vừa qua thì đây là câu hỏi lớn cần phải trả lời” - TS Đỗ Thiên Anh Tuấn đặt vấn đề.

TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, nhận định: “Để bảo vệ ngành thép, Chính phủ nâng thuế nhập khẩu khiến giá thép trong nước rần rần tăng lên. Nhờ bảo hộ, DN làm thép lãi lớn”.

Theo chuyên gia kinh tế Bùi Trinh, cần lưu tâm mức độ bảo hộ hữu hiệu cho sản xuất bởi tăng thuế nhập khẩu những sản phẩm là đầu vào của các ngành khác thì việc bảo hộ thực chất chỉ là bảo hộ những DN sản xuất sản phẩm đầu vào này. Còn lại, toàn bộ nền kinh tế sẽ gặp bất lợi. “Theo tính toán, nếu tăng thuế nhập khẩu phôi thép từ 9% (năm 2015) lên 23,3% và thép dài lên 15,4% theo quyết định mới đây của Bộ Công Thương sẽ làm giá thép tăng từ 2%-4%. Điều này có thể khiến tổng giá trị gia tăng của toàn nền kinh tế giảm 0,034%-0,07%. Từ đó, một số ngành sẽ bị ảnh hưởng rất lớn về giá trị gia tăng hoặc lợi nhuận” - ông Bùi Trinh phân tích.

Do đó, bảo hộ đối với ngành thép chỉ làm lợi cho số ít DN nên những DN khác lao vào chứ không mang lại lợi ích kinh tế nói chung. “Khi thép nhập khẩu rẻ hơn thép sản xuất trong nước thì sao lại bắt cả nền kinh tế phải chịu thiệt thòi để đáp ứng lợi nhuận cho một số ít công ty thép? Trong khi đó, thép sản xuất trong nước sẽ đội giá thành, đồng thời làm cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến môi trường. Như thế là đi ngược lại nguyên tắc bảo hộ một ngành khi nó có độ lan tỏa cao đến nền kinh tế trong nước và không làm cạn kiệt tài nguyên, ảnh hưởng đến môi trường” - ông Trinh góp ý.

Cần xem lợi ích tổng thể

Giới chuyên gia cho rằng nhà hoạch định chính sách dù ở cấp trung ương hay địa phương khi phê duyệt dự án phải nhìn ở góc độ cả nền kinh tế. Cụ thể, hiệu quả của một dự án tạo ra cho nền kinh tế là đóng góp về mặt gia tăng sản lượng, làm tăng giá trị sản xuất, tạo nên giá trị gia tăng và đóng góp vào cải thiện thu nhập cho người lao động.

Tuy nhiên, một dự án cũng có thể lấy đi những nguồn lực của nền kinh tế như đất đai, nguồn nước, khoáng sản, môi trường sống của người dân. “Do đó, nhà quản lý phải nhìn dưới góc độ tổng thể chứ không thể chỉ tin vào hoạch định tài chính của DN bởi họ thấy lãi thì làm” - một chuyên gia lưu ý.

Ninh Thuận quyết cho xây nhà máy luyện cán thép

Về thông tin HSG sẽ xây dựng một nhà máy luyện cán thép ở vùng biển Cà Ná (huyện Thuận Nam) với công suất (giai đoạn 1) lên đến 16 triệu tấn/năm, UBND tỉnh Ninh Thuận đã từng lên tiếng rằng dự án này mới dừng lại ở việc “cho chủ trương đầu tư, còn thực hiện hay không phải chờ ý kiến của Chính phủ”.

Tuy nhiên, chiều 14-9, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Phạm Văn Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, khẳng định tỉnh đã thống nhất quan điểm quyết tâm thực hiện dự án thép ở Cà Ná. “Cơ sở pháp lý thực hiện là năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án luyện cán thép ở Cà Ná; hơn nữa, trong điều kiện tỉnh đang thu hút đầu tư nên việc xây dựng là hợp lý” - ông Hậu giải thích.

Cũng theo ông Hậu, tỉnh đã ký kết hợp tác chiến lược với HSG để đầu tư tổ hợp dự án ở Cà Ná, gồm 3 thành phần: nhà máy luyện cán thép 10,6 tỉ USD, cảng biển tổng hợp 800 triệu USD và KCN.

Do vậy, tới đây, HSG sẽ là nhà đầu tư thực hiện các dự án thành phần này. “Tỉnh còn phải tham vấn ý kiến của các bộ - ngành trung ương về hình thức đầu tư, trong đó lưu ý đến hình thức hợp tác nhà nước và DN (PPP) cùng thực hiện” - ông Hậu nói.

Hôm nay (15-9), theo kế hoạch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Trần Quốc Nam cùng một số lãnh đạo sở, ngành, địa phương có buổi làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tham vấn về thủ tục đầu tư của dự án cảng biển tổng hợp, 1 trong 3 dự án thành phần của tổ hợp do HSG đầu tư.

Ninh Thuận quyết cho xây nhà máy luyện cán thép

Về thông tin HSG sẽ xây dựng một nhà máy luyện cán thép ở vùng biển Cà Ná (huyện Thuận Nam) với công suất (giai đoạn 1) lên đến 16 triệu tấn/năm, UBND tỉnh Ninh Thuận đã từng lên tiếng rằng dự án này mới dừng lại ở việc "cho chủ trương đầu tư, còn thực hiện hay không phải chờ ý kiến của Chính phủ".

Tuy nhiên, chiều 14-9, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Phạm Văn Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận, khẳng định tỉnh đã thống nhất quan điểm quyết tâm thực hiện dự án thép ở Cà Ná. "Cơ sở pháp lý thực hiện là năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt dự án luyện cán thép ở Cà Ná; hơn nữa, trong điều kiện tỉnh đang thu hút đầu tư nên việc xây dựng là hợp lý" - ông Hậu giải thích.

Cũng theo ông Hậu, tỉnh đã ký kết hợp tác chiến lược với HSG để đầu tư tổ hợp dự án ở Cà Ná, gồm 3 thành phần: nhà máy luyện cán thép 10,6 tỉ USD, cảng biển tổng hợp 800 triệu USD và KCN.

Do vậy, tới đây, HSG sẽ là nhà đầu tư thực hiện các dự án thành phần này. "Tỉnh còn phải tham vấn ý kiến của các bộ - ngành trung ương về hình thức đầu tư, trong đó lưu ý đến hình thức hợp tác nhà nước và DN (PPP) cùng thực hiện" - ông Hậu nói.

Hôm nay (15-9), theo kế hoạch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Thuận Trần Quốc Nam cùng một số lãnh đạo sở, ngành, địa phương có buổi làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tham vấn về thủ tục đầu tư của dự án cảng biển tổng hợp, 1 trong 3 dự án thành phần của tổ hợp do HSG đầu tư.

M.Lễ

Theo Phương Nhung

Người Lao động